Phân tích bài Bàn luận về phép học (Luận học pháp) của Nguyễn Thiếp

Phân tích bài Bàn luận về phép học (Luận học pháp) của Nguyễn Thiếp

Hướng dẫn

Loading...

I/. Theo Sách giáo khoa Ngữ Văn 8 thì Nguyễn Thiếp (1723-1804) tự là Khải Xuyên, hiệu là Lạp Phong Cư Sĩ, người đường thời kính trọng thường gọi là La Sơn Phu Tử, quê ở làng Mật Thôn, xã Nguyệt Ao, huyện La Sơn (nay thuộc huyện Đức Thọ), tỉnh Hà Tĩnh. Nguyễn Thiếp là người “thiên tư sáng suốt, học rộng hiểu sâu”, từng đỗ đạt, làm quan dưới triều Lê nhưng sau đó từ quan về dạy học. Quang Trung mấy lần viết thư mời ông cộng tác với thái độ rất chân tình nên cuối cùng Nguyễn Thiếp ra giúp triều Tây Sơn, góp phần xây dựng đất nước về mặt chính trị. Khi Quang Trung mất, ông lại về ở ẩn cho đến cuối đời mà không hợp tác với nhà Nguyễn.

Bài tấu của Nguyễn Thiếp gửi vua Quang Trung bàn về ba điều mà theo ông bậc đế vương nên biết: quân đức (đức của vua), dân tâm (lòng dân), học pháp (phép học).

II/. Bàn luận về phép học được trích từ phần ba của bản tấu mà Nguyễn Thiếp dâng vua Quang Trung. Mở đầu phần này, Nguyễn Thiếp đã trích dẫn một câu trong cổ thư để nhấn mạnh việc học. Cho tới nay, người đời vẫn còn lấy câu ây làm điều răn bảo con cháu: “Ngọc không mài, không thành đồ vật; người không học, không biết rõ đạo”. Ngọc là một loại đá dùng làm đồ trang sức quý, nhưng không có thợ điêu khắc đục đẽo, trau chuốt (mài) thì chẳng thành vòng (ngọc), tượng (ngọc). Người xưa lấy sự vật như thế đế ví von với việc học, với việc thu nhận, ghi nhớ để biết làm theo điều tốt (đạo). Nhưng đạo theo Nguyễn Thiếp là gì? “Đó là lẽ đổi xử hằng ngày giữa mọi người”. Như thế “đạo”, theo Nguyễn Thiếp thì chẳng có gì cao xa, ngược lại nó gắn bó với con người trong từng giây, từng phút vì đó là "lẽ đối xử hằng ngày”, là có những việc làm, lời nói thân thiện.

Nguyễn Thiếp còn cho vua Quang Trung biết: “Nước Việt ta, từ khi lập quốc đến giờ, nền chính học dã bị thất truyền. Nhận xét ấy có đúng chăng? Thật khó để tìm hiểu tận gốc nhận xét này, bởi nước ta thời ấy đã có “nền chính học” chưa, hay học theo cái học của người Trung Quốc? Và Nguyễn Thiếp đã chứng minh: "Người ta đua nhau lối học hình thức hòng cầu danh lợi, không còn biết đến tam cương, ngã thường. Chúa tầm thường, thần nịnh hót. Nước mất, nhà tan đều do những điều tệ hại ấy". Đọc những câu văn chứng minh nền chính học bị thất truyền ấy. nhất ỉà cụm từ “Chứa tầm thường” thì chúng ta cổ thể nghĩ rằng Nguyễn Thiếp đã ám chỉ vào thời vua Lê – chúa Trịnh, quân nhà Thanh qua xâm lưực nước ta. Chúa không coi vua là vua. Phủ chúa từ quan đến lính chỉ lo vờ vét, ăn chơi sa đọa trở thành kiêu binh. Nghĩa vua tôi, ân cha coa, tình chồng vợ (tam cương), năm đức tính con người cần có là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín (ngũ thường) để đối xử với nhau thường ngày không còn được coi trọng khiến chúa tầm thường, thần nịnh hót, đó là nguyên nhân dẫn đến kết quả nước mất nhà tan. Việc chính học bị thất truyền làm cho nước nhà tao loạn mà chính vua Quang Trung phải dùng trí lực và binh lực để can thiệp mới dẹp được “Chứa”, đánh đuổi quân Thanh cứu được nước nhà.

Sau khi nêu mục đích chân chính của việc học, phê phán việc học lệch lạc, sai trái, Nguyễn Thiếp đề nghị vua Quang Trung cho mở rộng địa bàn học hành, kể cả cho việc mở các trường tư tạo điều kiện cho "con cháu các nhà văn võ, thuộc lại ở các trấn cựu triều, đều tùy dâu tiện đấy mà đi học". Chính sách học tập rộng khắp, không phân biệt đối xử con chấu của quan chức cựu triều (chế độ cũ) hay tân triều (chế độ mổi) quả thật là tiến bộ.

Về phép dạy và phép học, Nguyễn Thiếp đề nghị là “nhất định theo Chu Tử". Chu Tử là ai? Và đề nghị của Nguyễn Thiếp có hợp lý không? Sử sách cho biết Chu Tử (Chu Hi) là nhà nho, nhà triết học và cũng là nhà giáo dục học nổi tiếng thời Nam Tống. Chu Tử chủ trương học theo cấp, lúc đầu học tiểu học để bồi lấy gốc, để lấy kiến thức cơ bản, sau đó mới học chuyên sâu. Sách học thì "tứ thư" gồm luận Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học, Trung dung; "ngũ kinh” là năm cuốn sách kinh điển của Nho giáo, gồm Kinh dịch, Kinh thư, Kinh thi, Kinh lễ, Kinh Xuân Thu và “chư sử” là những cuốn sách viết về lịch sử nổi tiếng. Còn cách học thì “Học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học mà làm”, nghĩa là học để nhớ và để ứng dụng. Muốn dễ nhớ và nhớ lâu thì đọc, tìm hiểu nhiều rồi đức kết lại cho thật ngắn gọn để tùy nghi ứng xử trong đời sống hằng ngày. Nội dung của học tập chính là tam cương, ngũ thường, tứ thư, ngữ kinh và chư sử mà Nguyễn Thiếp đã đề ra. Trưđc khi kết thúc bản tấu trình, Nguyễn Thiếp đã nêu kết quả tất yếu nếu nhà vua chân hưng và phát triển việc học hành: "Đạo học thành người thì tốt nhiều; người tốt nhiều thì triều đình ngay ngắn mà thiên hạ thịnh trị”. Đó là kết quắ tốt đẹp của việc trị nước an dân của triều đình biết xây dựng nền tảng làm người cho mỗi công dân bằng công việc giáo dục.

III/. Phần trích của bài tấu không dài nhưng sự việc tấu trình rất cơ bản mà cùng rất hệ trọng. Các ý chính đưực sắp xếp một cách hợp lý, và được trình bày bằng phép nhân quả. Nhờ vậy mà người đọc dễ nhận ra cái học sai trái của các triều thần trước và con đường chấn hưng giáo dục mà Nguyễn Thiếp “kính tấu trình” và mong ước vua Quang Trung thực hiện.

Việc học ngày nay đã khác, và đã có nhiều người bàn luận, nhưng Bàn luận về phép học vẫn còn giá trị thời sự, nhất là trong xã hội đang trên đà suy thoái về đạo làm người.

* Các điểm cơ bản cần lưu ý khi phân tích bài Bàn luận về phép học (Luận học pháp) của Nguyễn Thiếp

“Tấu” là bài viết của cấp dưới trình lên đức vua, có lời văn trang trọng, giữ đúng phép tắc của bầy tôi Với bài văn tấu Bàn luận về phép học của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, đòi hỏi đọc thật kỹ phần chú thích trong SGK để hiểu rõ về tác giả, hiểu rõ nghĩa của các từ Hán – Việt.

+ Mục đích chân chính của việc học mà Nguyễn Thiếp đưa ra có ở đoạn văn: “Ngọc không mài… điều ấy….” (3 câu).

+ Đoạn văn: “Nước Việt ta… đều do những điều tệ hại ấy” chỉ ra những lối học lệch lạc, sai trái, và tác hại của chúng.

+ Các chính sách mà Nguyễn Thiếp khuyên vua Quang Trung thực hiện để khuyến khích việc học nằm gọn trong câu văn: “Cúi xin từ nay… đều từ đâu tiện đấy mà đi học”

+ Sơ đồ về trình tự lập luận của bài văn:

Nguồn: Vietvanhoctro.com

Loading...
Content Protection by DMCA.com