Phân tích Chiếu Dời Đô (Thiên Đô Chiếu) của Lý Thái Tổ

Phân tích Chiếu Dời Đô (Thiên Đô Chiếu) của Lý Thái Tổ

Hướng dẫn

Loading...

I.Lịch sử có ghi rằng Lý Công Uẩn người châu Cổ Pháp, thuở nhỏ là đệ tử của nhà sư Lý Khánh Văn, sau đó đến học ở chùa Lục Tổ của sư Vạn Hạnh. Lớn lên, ông được cử chỉ huy quân Điện tiền, thăng dần đến chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ. Lý Công Uẩn vừa là người có tài, vừa có đức lại khéo cư xử nên rất được triều nhà Tiền Lê quý trọng.

Nhà Tiền Lê suy vong. Năm 1009, được các triều thần nhà Tiền Lê ủng hộ, và sư Vạn Hạnh hậu thuẫn Lý Công Uẩn lên ngôi lấy hiệu là Lý Thái Tổ. Thấy Hoa Lư chật hẹp, Lý Thái Tổ muốn dời đô ra Đại La thành. Năm 1010, nhà vua viết Chiếu dời đô.

II.Chiếu là thể văn đặc biệt chỉ dành cho vua dùng để ban bố mệnh lệnh, nhưng Chiếu dời đô thì có chút khác biệt là không ban bố mệnh lệnh trực tiếp, mà trước hết là giải thích ý muốn dời đô của nhà vua.

Mở đầu bản chiếu, nhà vua viết:

“Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh 5 lần dời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng trải qua 3 lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam đại theo ý mình mà tự chuyển dời”.
Có thể thấy, Lý Công Uẩn đặt vấn đề dời đô hết sức tinh tế. Bằng cách lấy dẫn chứng 17 đời vua nhà Thương từ vua đầu tiên là Thành Thang đến vua Bàn Canh thì có 5 lần dời đô. Qua nhà Chu có 3 đời là Chu Văn Vựơng, Chu Vũ Vương và Chu Thành vương cũng thực hiện 3 lần dời đô. Lấy chứng cứ lịch sử thời Trung Quốc cổ đại vua Lý Thái Tổ đặt vấn đề là các vua thực hiện việc dời đô theo ý riêng của mình?

Và nhà vua trả lời bằng kiểu giải thích nguyên nhân: “Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng lệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi”. Việc dời đô là để củng cố cho “vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh”. Tuy vậy, vì vua được coi là thiên tử, thay trời trị dân nên trước khi dời đô các vua phải “trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi”, vấn đề được đặt ra và giải thích không là mệnh lệnh, không là điều mà cấp dưới phải răm rắp tuân theo. Trong lời giải thích của nhà vua, trước hết vua đề cập tới “mệnh trời” thuộc lãnh vực tâm linh; thứ đêm là “ý dân” theo ý nghĩa dân là quý nhất, là quan trọng nhất (Dân vi quý). Trong lý lẽ giải thích nhà vua còn nêu lên điều kiện là “nếu thấy thuận tiện”. Như vậy, vua Lý Thái Tổ có ý dời đô theo hướng thiên thời – địa lợi – nhân hòa, theo ba nguyên tắc hành động theo Nho gia để đạt đến thành công. Điều ấy chứng tỏ vua Lý Thái Tổ là người học rộng, có đạo đức cao dày.

Không chỉ viện dẫn các vị vua Trung Quốc thời cổ đại, vua Lý Thái Tổ còn viện dẫn lịch sử trong nước, nêu lên sự thất bại của nhà Đinh (Đinh Bộ Lĩnh), và nhà Lê (Lê Hoàn) để bộc lộ tâm trạng của mình rằng: “Trâm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi”.

Có người cho rằng hai triều Đinh, Lê vẫn cứ đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình ngày nay) vì thế và lực chưa đủ mạnh nên cần phải dựa vào địa thế hiểm trở của vùng này để bảo vệ vương quyền. Lý lẽ ấy e rằng thiếu thuyết phục vì tháng 11 năm 1009, Lê Ngọa Triều mất, Lý Công ưẩn lên ngôi vua là do một số triều thần của nhà Tiền Lê đưa lên. Lúc ây, Lý Công Uẩn thừa hưởng một “chính sự đổ nát, lòng người chán nản” thì không thể nói Lỷ Công uẩn dời đô chỉ một năm sau (1010) là vì vua đã tạo được thế lực và lực đủ mạnh. Chỉ có thể nói chuyện dời đô là do tầm nhìn của người lãnh đạo.

Là người có học, lại là quan Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ chắc Lý Công Ưẩn đọc nhiều sách sử. Nhờ vậy vua mới biết thành Đại La “ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi […] Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng […] Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hộỉ trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất cứa đế vương muôn đời”

Nếu nhà Đinh và nhà Tiền Lê dựa vào địa thế hiểm trở để giữ ngôi vua thì Lý Công Uẩn dựa vào lực của dân mà giữ ngôi báu. Đại Ca vẫn dựa vào thế núi, vật cản là sông nếu giặc có tấn công, nhưng quan trọng hơn là đất cao rộng phì nhiêu, dân cư khỏi chịu cảnh khôn khổ vì ngập lụt.

Hai câu cuối của Chiểu dời đô, nhà vua viết: ‘Trẫm muốn dựa vào sự thuật lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?”. Hai câu văn trên không thuộc dạng câu mệnh lệnh mà là câu tỏ bày ý muốn, tình cảm của mình để hỏi ý của triều thần. Có lẽ với tầm nhìn của mình, nhà vua đã thấy được thiên thời, địa lợi, và bây giờ muốn được sự đồng thuận của triều thần – nhân hòa.

III.Tuy là một bài Chiếu, nhưng Chiếu dời đô không mang cả hình thức lẫn nội dung của một bài chiếu thông thường, về nội dung, Chiếu dời đô thể hiện cái trí uyên bác, tầm nhìn xa, và nhâ't là cái tâm yêu nước thương dân của Lý Công uẩn. về hình thức thì giải thích rõ ngọn nguồn và muốn được đối thoại. Có lẽ nhờ thế rhà Lý Công uẩn đạt được sự đồng tình của triều thần trong việc dời đô từ Hoa Lư đến Đại La (Thăng Long) vào năm 1010 vậy.

Tóm lại, khi phân tích bài “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn, bạn cần lưu ý những điểm cơ bản cụ thể:

1. Chiếu là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh, để giải thích nguyên nhân và nhấn mạnh ý muốn nói dời thủ đô.

2. Đây là bài văn có nhiều điển cố về lịch sử, vì vậy học sinh cần đọc kỹ phần chú thích ấy, học sinh có thể hiểu phần nguyên nhân của việc dời đô.

3. “Chiếu dời đô ” thuộc thể văn nghị luận giải thích. Việc viện dẫn sử sách Trung Quốc nói về việc đã từng dời đô để làm chỗ dựa cho quyết định của mình. Dời đô cũng là việc bình thường.

4. “Chiếu dời đô” có sức thuyết phục lớn vì:
– Về trình tự lý lẽ thật rõ ràng vồ chặt chẽ
– Dẩn chứng dời đô là việc đã có, thường rình.
– Giải thích tại sao các triều Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn có “số phận ngắn ngủi”

5. Giải thích vị trí tốt của thành Đại La.

6. Hỏi triều thần về việc dời đô.
– Về rình cảm: bài Chiếu như một lời tâm tình, lại hỏi ý kiến triều thần về lẽ thiệt hơn trong việc dời đô.

Nguồn: Vietvanhoctro.com

Loading...
Content Protection by DMCA.com