Phân tích trích đoạn Nước Đại Việt ta trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

Phân tích trích đoạn Nước Đại Việt ta trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

Hướng dẫn

Loading...

I. Nguyễn Trãi được sinh ra và trưởng thành vào lúc nước nhà lâm vào tình trạng rối ren khiến Trần Nguyên Đán đã có nhiều đêm không ngủ, muốn mê đi trên giường bệnh để khỏi thấy cảnh hỗn loạn quanh mình. Con rể ông, Nguyễn Phi Khanh cũng bao lần than thở! Kịp khi Hồ Quý Ly lên làm vua, Nguyễn Phi Khanh đồng ý ra làm quan. Nguyễn Trãi đậu thái học sinh, cùng ra làm quan với cha. Quân Minh lấy cớ “diệt Hồ phòng Trần“ đem quân qua đánh. Nguyễn Phi Khanh bị bắt giải về Tàu. Nghe lời cha dặn, Nguyễn Trãi nung nấu chí căm thù. Ông tìm gặp Lê Lợi, cùng sát cánh với lãnh tụ lỗi lạc này trong cuộc kháng chiến chống quân Minh. Kháng chiến thành công, ông thừa lệnh Lê Lợi soạn “đại cáo Bình Ngô“ công báo cho toàn dân trong không khí hân hoan toàn quốc. Mở đầu bản “thiên cổ hùng văn“ ấy là đoạn văn khẳng định chủ quyền và nghĩa vụ phải bảo vệ chủ quyền thiêng liêng ấy của toàn dân.

II. Mở đầu bài cáo là hai câu khẳng định yêu cầu lớn lao nhất cỏa mọi người dân sống trên đất nước:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

Trước hết chúng ta hãy tìm nghĩa hai câu ấy. “Nhân nghĩa” ở câu đầu nguyên chữ là “nhân ái, nghĩa vụ”. “Nhân ái” là lòng yêu thương con người. Ai cũng có lòng nhân ái, nhưng chỉ có nhân ái không thôi thì chưa đủ, cần biểu hiện lòng thương người bằng hành động. Bdi vậy mà “nhân ái” cần đi liền với “nghĩa vụ”, lòng yêu thương gắn liền vòi việc mà mỗi người buộc phải làm để biểu hiện lòng thương người. “Cốt ở yên dân”: “cốt” là cái lõi, vật cứng đặt ở giữa cho vững chắc. Ở đây có nghĩa bóng là điều quan trọng, điều chính yếu, điều đứng đầu. “Yên dân” là người dân sống trong cảnh thanh bình, chẳng một ai có quyền sách nhiễu. Như vậy, ở câu đầu, Nguyễn Trãi đã khẳng định yêu thương con người, việc quan trọng nhất, chính yếu nhất là tạo ra cho người dân cuộc sống thanh bình, chẳng một ai có quyền sách nhiễu họ nếu họ không phạm vào phép nước. “Dân yên” là ao ước bình thường của mọi thành viên trong xã hội, còn “yên dân” chính là bổn phận của mọi người trong đó có trách nhiệm lớn nhất là ở những con người “chãn dắt” họ.

“Quân” ở câu thứ hai chính là “quân tử”, người học rộng, tài cao, thấy đạo lý thánh hiền, chuyên làm việc phải mà vị trí cao nhất là vua quan. “Điếu phạt” nguyên chữ là “điếu dân phạt tội”. “Điếu” là thương, đau đớn vì thương. Người quân tử, vua quan thì thương dân, đau xót cho dân mà cất quân diệt trừ những kẻ bạo tàn.

Tại sao Nguyễn Trãi đặt hai câu ấy vào đầu bài Bình Ngô đại cáo?

Xét cho cùng thì vì đó vấn đề chính của mọi người cùng sống một thời trong một quốc gia. “Dân” có yêu cầu của “dân”, “quân” có nghĩa vụ của “quân”. Nước có tôn ti trật tự bao giờ cũng khởi đầu từ nghĩa vụ và tình thương thực lòng đó. Nguyễn Trãi đã đưa vân đề “yên dân” và “trừ bạo” làm tư tưởng mấu chốt của quyền tự chủ dân tộc. Từ đó, tác giả đã chứng minh cho mọi người thấy những gì đã xảy ra trong quá khứ để nhân đó mà trình bày sự việc vừa mới chấm dứt. Những sự việc ấy thật quan trọng, quan trọng vô cùng bởi chúng quyết định sự sống cồn, tiến bộ của dân tộc, bởi chúng gắn liền với xương máu của bao thế hệ đã qua, với bao người đã:

“Phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu Và làm cho đất cát hoang vu Bỉêh thành một dải sơn hà gấm vóc”

Với bao người mà

“Máu họ đã len vào mạch đất

Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông”.

Đúng, tư tưởng “yên dân” và “trừ bạo” là tư tưởng chủ đạo của người Việt từ thời dựng nước. Bởi vậy, Nguyễn Trãi đã nhắc lại và chứng minh tư tưởng chủ đạo ấy xuất phát từ tinh thần tự chủ dân tộc:

“Như nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xưng nền hiến đã lâu,

Núi sông bờ cõi đã chia,

Phong tục Bắc Nam cũng khác”.

Bốn câu đầu của đoạn trích, Nguyễn Trãi nhắc lại quá khứ lâu dài của tinh thần độc lập tự chủ từ biên cương lãnh thổ đến phong tục tập quán, nền tảng vãn hóa, những vị hỉền tài. về “vãn hiến” và “phong tục” thì đó là về sách vở và các danh nhân trong một thời kỳ nào đó vẫn được người dân Việt viết và truyền tụng. Khi chưa có chữ viết, bị phương Bắc đô hộ thì họ học chữ Hán. Trung tâm Phật giáo Luy Lâu có những nhà sư giỏi chữ Hán. Trong lịch sử phát triển Thiền học tại Trung Quốc, Giao Châu đã trực tiếp cống hiến ít nhất là hai thiên sư, đó là Tăng Hội và Huệ Thắng, về sau, có nhiều nhà sư khác như sư Đỗ Thuận, Vạn Hạnh, Không Lộ… đều làm thơ chữ Hán hay và giỏi. Tới đời Hàn Thuyên thì chữ Nôm đã được khai sinh, sách chữ Nôm đã có… về phong tục, tập quán thì dù người Hán, hay các triều đại phong kiến phương Bắc dùng những chính sách hà khắc nhưng vẫn không đồng hóa được dân ta. Người Việt thời bấy giờ vẫn giữ nhiều phong tục tập quán tốt đẹp… như tục nhuộm răng, ăn trầu, bơi chải, đâu vật, chọi trâu, đá cầu, đánh đu, đánh phết, ném còn… Những lễ hội như hội làng, hội xuân, thờ cúng tổ tiên, cưới hỏi, chôn cất người chết, tín ngương đa thần… đều mang nét đặc trưng của người Việt.

Còn về “Núi sông bờ cõi đã chia". Sách Việt sử lược có ghi “Đời Trang Vương nhà Chu (696-682 tr.CN)” ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu nước là Văn Lang. Việt Vương Câu Tiễn (505-462 tr.CN) cho người đến dụ hàng nhưng Hùng Vương không theo. Sách Lịch triều hiến chương loại chí cũng có ghi “Đời Hùng Vương dựng nước gọi là nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu, chìa nước làm ỉ5 bộ. Chỗ nhà vua ở gọi là nước Văn Lang". Tới thời Lý thì đã có biên cương từ Nam Quan đến Quảng Bình…

“Chính những gì đã có phân định rạch ròi ấy mà

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần, bao đời gây nền độc lập,

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hừng cứ một phương. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

Song hào kiệt đời nào cũng có”.

Hai câu đầu đôì nhau từng cặp triều đại Nam – Bắc ngang hàng với nhau trong tổ chức triều chính. Đây là biểu hiện thái độ tự chủ, bình đẳng “mỗi bên hừng cứ một phươngSự thế đã rõ ràng. Thế nhưng lịch sử cũng đã từng ghi các triều đình phương Bắc thường đưa quân qua xâm lược Đại Việt:

– Triệu Đà dùng mưu đánh thắng An Dương Vương, sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Hải thành lập nước Nam Việt, rồi xưng đế. Họ Triệu làm vua được năm đời, ngót gần trăm năm (207-111 tr.Tây lịch). Tuy thần phục nhà Hán nhưng vẫn giữ chân mạng đế vương, trong triều có tể tướng Lữ Gia một lòng vì nước. Cuối cùng, họ Triệu bị nhà Hán đánh bại.

– Một loạt các cuộc khởi nghĩa chống các triều đình phong kiến phương Bắc bùng nổ, nhất là vào đời nhà Đường, nhất là cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế), Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương). Nhà Đường mất địa vị độc tôn khiến vùng Quảng Châu nằm trong tay anh em Lưu Ân, Lưu Công. Lập ra Nam Hán dẫn đến việc Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, mở ra thời kỳ tự chủ cho đất nước. Thờị kỳ này, các biến cô" lịch sử ở Trung Hoa và ở nước ta chuyển biến khá nhanh. Nhà Tống cai trị đất nước Trung Hoa, còn nhà Đinh, rồi Lê Hoàn cai trị đất Nam Đại Cồ Việt.

– Từ năm 1010 đến năm 1225, nhà Lý bắt đầu trị vì đất Đại cồ Việt, năm 1054 vua Lý Thánh Tông đổi tên thành Đại Việt, vượt khỏi Hoành Sơn mỏ mang bờ cõi tới Quảng Trị bây giờ. Bên Trung Hoa thì nhà Tống cầm quyền, sai quân sang đánh nước ta. Tướng nhà Tống là Triệu Tiết bị Lí Thường Kiệt đánh đuổi.

– Từ năm 1225 đến năm 1400, nhà Trần thay nhà Lý thì bên Trung Hoa quân Nguyên đánh thắng quân Tống, xua quân qua xâm lược Đại Việt khiến tướng Ô Mã Nhi bị binh tướng thuộc quyền Trần Hưng Đạo giết ở sông Bạch Đằng, còn tướng Toa Đô thì bị binh tướng nhà Trần bắt sống.

– Quân Minh đánh thắng quân Nguyên, lên cầm quyền ở Trung Hoa, sai Trương Phụ qua chiếm Đại Việt, cai trị một cách hà khắc, tàn bạo (1414-1427), đầu năm 1428, Lê Lợi khởi nghĩa ở Nam Sơn đánh lại quân Minh…

Như thế, rõ ràng Trung Hoa đã công nhận có một nước Văn Lang, Âu Lạc, Nam Việt, Đại cồ Việt, và Đại Việt đã được ghi trong sử sách, và trong thực tế từ những cuộc kháng chiến giữ đất…

Chứng minh đất nước Trung Hoa, Đại Việt đều có vua cai trị theo từng triều đại tương ứng có nghĩa là đã giải thích cơ bản về những anh hùng hào kiệt của nước Đại Việt vì vùng đất thiêng liêng, vì phong tục Bắc Nam cũng khác mà đứng dậy chống lại kẻ thù xâm lược. Suốt cả dòng lịch sử từ thời Hùng Vương dựng nước đến Lê Lợi, đúng như Nguyễn Trãi đã tổng hợp và kết luận:

“Việc xưa xem xét Chứng cớ còn ghi”.

III/- Bình Ngô đại cáo được Nguyễn Trãi viết bằng chữ Hán, văn xuôi; Bùi Văn Nguyên dịch ra tiếng Việt bằng văn biền ngẫu nhưng vẫn giữ đúng cấu trúc, nội dung của một bài cáo đã được đặt ra. Cái hay của Bình Ngô đại cáo nói chung, đoạn trích phần đầu nói riêng là lúc nào đọc cũng cảm thấy lòng tự hào rộn lên mãnh liệt, bị cuôn hút thực lòng. Ây là nhờ lời quyện chặt với ý, và cái ý sáng nhất là nhân bản, bao dung. Có lẽ vì nhận- rõ những giấ trị cao cả đó, cùng với toàn bộ sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi nên thế giới đã không ngần ngại ghi Ức Trai vào danh sách danh nhân văn hóa của thế giới, và tổ chức kỷ niệm trọng thể vào năm 1980.

Các thế hệ đời sau luôn cảm thấy tự hào về ông!

* Các điểm cơ bản cần chú ý khi phân tích trính đoạn Nước Đại Việt ta trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

“Cũng như hịch, cáo là thể văn có tính chất hùng biện”, được viết bằng thứ ngôn ngữ chọn lọc, khái quát, khúc chiết và nghiêm túc.

Đoạn văn có nhiều từ Hán – Việt, lại có những sự việc gắn liền với lịch sử nên cần đọc thật kỹ phần chú thích trong SGK mới có thể hiểu được ý của đoạn văn.

“Bình Ngô đại cáo” viết sau cuộc kháng chiến chống quân Minh. Tư tưởng chính cửa bài văn có ở hai câu đầu. Để hiểu rõ tư tưởng cần phân tích được các vấn đề:

a. Nhân nghĩa là gì?

* Nhân nghĩa là lòng thương và nghĩa vụ đối với dân. Khi xác định điều ấy là đã có vua quan, đã có dân; nghĩa là đã có một dân tộc, một đất nước. Một đất nước chỉ hùng mạnh khi người dân được sống yên ổn để làm ăn. Ai phá vỡ sự yên ổn đó là kẻ tàn bạo. Vua quan (quân) vì thương dân mà trừng phạt những kẻ đi ngược điều nhân nghĩa.

b. Ai là người “điếu dân phạt tội”?

c.Hành động “phạt tội” chỉ bắt đầu lúc Lê Lợi, Nguyễn Trãi,… đánh quân Minh hay đã có từ trước?

d.Cụ thề là ở các triều đại nào, ở trong đoạn văn?

e.Các triều đại của Đại Việt “phạt tội” vì lý do gì? (Để bảo vệ chân lý nào? Câu nào trong đoạn văn nói về đất nước (vật chất); Câu nào nói về đời sống tinh thần; Câu nào khẳng định sự xuất hiện người tài giỏi?)

f.Vậy thì sự khẳng định việc “xưng đế” trong “Bình Ngô đại cáo“ có khác với “Nam đế” trong “Nam quốc sơn hà”? Khác nhau ở điểm nào? (“hào kiệt” – “thiên thư”).

Nguồn: Vietvanhoctro.com

Loading...
Content Protection by DMCA.com