Nói về Nguyễn Trãi có ý kiến cho rằng Ở ông ta bắt gặp một nhà chiên sĩ và thi sĩ. Hãy trình bày ý kiến của em về nhận định trên.

Nói về Nguyễn Trãi có ý kiến cho rằng Ở ông ta bắt gặp một nhà chiên sĩ và thi sĩ. Hãy trình bày ý kiến của em về nhận định trên.

Hướng dẫn

Loading...

Nguyễn Trãi cách chúng ta nhiều thế kỉ nhưng những gì ông để lại thì có ý nghĩa thật lớn lao, nhiều người khâm phục ông ở tài năng quân sự, có người khâm phục ông là con người có tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước thiết tha. Có ý kiến cho rằng: Ở ông ta bắt gặp một nhà chiến sĩ và thi sĩ. Cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Trãi là minh chứng cho nhận định đó.

Khi làm quan Nguyễn Trãi luôn một lòng hướng về dân về nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm và đấu tranh chống lại bọn tham quan, nhịnh thần. Trong sáng tác, ông luôn thể hiện lòng yêu thiên nhiên, yêu đất nước, luôn canh cánh nỗi lo phò dân giúp nước. Vì thế mà cuộc đời cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, ông luôn mang đem tài sức ra giúp dân, giúp nước. Từ lúc bôn ba tìm đường cứu nước đến khi về ở ẩn ở Côn Sơn, lúc nào Nguyễn Trãi cũng nghĩ đến dân, làm cho dân được ấm no hạnh phúc dù biết rằng:

"Nhân sinh thức tự đa ưu họa"

Vì yêu dân yêu nước nên khi vua Lê Thái Tông mời ra giúp nước lần thứ hai, ông vẫn nhận lời dù tuổi cao sức yếu như cây tùng đến cuối đời vẫn đem các vị thuốc quý để cứu dân, cứu đời:

"Hổ phách, phục linh nhìn mới biết

Dành còn để trợ dân này"

(Tùng)

Những ánh văn thơ khi Nguyễn Trãi thể hiện đủ sức đánh tan mười vạn quân. Trong chiến tranh, ông dùng ngòi bút ấy dụ hàng Phương Chính (thư dụ Phương Chính) khiến giặc phải rút quân về nước mà ta không phải tốn một mũi tên. Đó là tài năng phi thường của Nguyễn Trãi, tài năng đó không chỉ giúp vua trị vì đất nước, giúp dân không phải chịu cảnh nước mất nhà tan.

Khi đến thời bình, ông dùng ngòi bút ấy để khuyên vua nên chăm lo đến đời sống nhân dân khiến nơi thôn cùng xóm vắng không một tiếng kêu hờn giận oán sầu, dạy thái tử trong những việc kính trời chăm dân không dám khinh suất chỗ nào (răn bảo thái tử). Đó là thời kỳ nhân dân được sống êm ấm, no đủ, xã tắc được vững bền, là thời kỳ huy hoàng của dân tộc. Cũng chính ngòi bút ấy đã cảnh cáo bọn tham tàn sâu dân mọt nước:

"Chớ cậy sang mà ép về

Lời chẳng phải vưỡn không nghe

Làm người mà cậy khi quyền thế

Có thuở bàn cờ tốt đuổi xe."

Ông đã dùng lời văn của mình cảnh cáo bọn chúng đừng ỷ quyền thế mà ức hiếp nhân dân, ông chỉ ra cho chúng là có ngày nhân dân, những con tốt trong bàn cờ, sẽ đứng lên trị tội chúng, những con xe đang nghênh ngang tự đắc, ngang ngược hành hạ nhân dân, bách tính.

Có thể nói Nguyễn Trãi rất lỗi lạc trong lĩnh vực quân sự, chính trị và là một thi sĩ xuất sắc là cây đại thụ tạo bóng mát che rợp thi đàng thế kỉ XV như lời của người đời sau nhận xét về ông. Tâm hồn ông luôn chan hòa mở cửa đón thiên nhiên, hòa nhập với đất trời. Với ông, thiên nhiên chính là người bạn tốt thân thiết. Từ cảnh bến đò xuân bến vắng, thiếu bóng người đến cảnh chợ cá làng chài rộn rịp, tất cả đều được đưa vào thơ thật sinh động và tràn ngập sức sống.

"Độ đầu xuân thảo lục như yên

Xuân vũ thiên tai thủy phách thiên

Dã kính hoang lương hành khách thiểu

Cô châu trấn nhật gác sa miên"

(Trại đầu xuân độ)

Dịch thơ:

"Cỏ xanh như khói bến xuân tươi

Lại có mưa xuân nước vỗ trời

Quạnh quẽ đường đồng thưa vắng khách

Con đò gối bãi suốt ngày ngơi"

(Bến đò xuân đầu trại)

Đứng trước cảnh thiên nhiên đẹp, tâm hồn thi sĩ lại xao động. Cảnh thiên nhiên với một thảm cỏ xanh mướt, một làn mưa rắc nhẹ xuống bến đò, hợp cùng những con sông khiến người ta có cảm giác nước vỗ trời, một con đường không bóng người qua lại, vắng đến mức quạnh quẽ, một con đò tưởng chừng bình thản nằm gối bãi nhưng thực ra đang mơ đến một ngày được lướt sóng ra khơi. Tất cả là một bức tranh thủy mặc đã được Nguyễn Trãi vẽ lên không phải bằng cọ, bằng màu mà cảnh cứ hiển hiện ra trước mắt người ta.

Với những sinh hoạt dân dã đời thường cũng được đưa vào thơ Nguyễn Trãi với tất cả nét chân thực vốn có của nó:

"Lao xao chợ cá làng ngư phủ

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương"

(Cảnh tình mùa hè)

Với Nguyễn Trãi những âm thanh bình thường trong sinh hoạt làng quê Việt Nam đã trở thành âm điệu rộn ràng của cuộc sống trù phú khiến người đọc tưởng chừng đang nghe và say cùng cảnh, cùng người. Là một quan đại thần, một tướng lĩnh tài ba nhưng ta vẫn thấy trong Nguyễn Trãi nét ý nhị và không kém phần hóm hỉnh của một nhà thơ:

"Tình thư một bức phong còn kín

Gió nơi đâu gượng mở xem"

(Cây chuối)

Bài thơ với những tứ thơ thật mặn mà và ý nhị, mang cảm hứng lãng mạng của thi ca. Một bức thư tình – nõn chuối cuộn kín lại, trông thật hấp dẫn mà chẳng ai dám mở xem. Chỉ có gió tinh nghịch len lén gượng mở ra xem, chỉ gượng mà thôi. Ở đây, gió đã được nhà thơ thổi vào nét tinh nghịch của một tâm hồn trẻ trung đến kinh ngạc. Ta lại bắt gặp một nét mới trong tâm hồn người chiến sĩ và thi sĩ: phóng khoáng và tươi trẻ đến lạ kì. L.Tônxtôi đã từng nói: Người ta nghiêng mình trước tài năng nhưng phải cúi đầu trước lòng nhân ái. Ở Nguyễn Trãi hội tụ cả hai yếu tố khiến người ta vừa phải cúi đầu vừa phải nghiêng mình. Chính tư tưởng nhân nghĩa luôn có trong Nguyễn Trãi đã giúp ông trở thành nhà chiến sĩ và thi sĩ tài hoa, lỗi lạc. Phương châm của ông là: nhân nghĩa duy trì quốc thái an (nhân nghĩa duy trì thế nước yên). Dù bất cứ lúc nào, ở đâu ông cũng luôn tâm niệm là phải lấy dân làm gốc, ông đánh giặc trừ tham tàn là vì dân: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Quân điếu phạt trước lo trừ bạo (Bình Ngô đại cáo). Ông không phải là kẻ hiếu chiến mà luôn đặt nhân nghĩa lên đầu.

"Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng

Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức"

(Bình Ngô đại cáo)

Ông ra làm quan với mục đích là lo cho dân có cuộc sống ấm êm như thời vua Nghiêu, vua Thuấn:

"Đọc sách thời thông đòi nghĩa sách

Chăn dân mạ nỡ mất lòng dân

Dân Nghiên Thuấn, vua Nghiêu Thuấn

Dường ấy ta đã phỉ sở nguyền"

Yêu quê hương, yêu cảnh dân dã nên ngay cả trong những bài thơ tả cảnh của ông ta vẫn thấy bóng dáng cảnh sống bình dị ở thôn quê, cảnh sinh hoạt của nhân dân, cuộc sống ấm êm được ông ca ngợi. Trải qua mười năm sống trong dân, mười năm chiến dấu nhờ sức dân, Nguyễn Trãi đã trở thành người cha hết lòng vì những đứa con đỏ dân đen. Nguyễn Trãi là một thi sĩ tài hoa, một chiến sĩ lỗi lạc, luôn đặt tư tưởng nhân nghĩa lên đầu. Ông thực xứng đáng với lời ca ngợi của Lê Thánh Tông:

"Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo"

(Ức Trai lòng dạ sáng sao khuê)

Người chiến sĩ là người chiến đấu bảo vệ cuộc sống anh lành của nhân dân. Thi sĩ là người làm thơ về cuộc sống, về cảnh vật quê hương đất nước. Trong con người Nguyễn Trãi, nhà chiến sĩ và Ức Trai luôn tồn tại song song bên nhau.

Có thể thấy Nguyễn Trãi có một tấm lòng yêu nước, thương dân vô bờ bến. Khi giúp vua cai trị đất nước ông luôn đưa ra những lời khuyên, lời góp ý để vua có những chính sách tốt nhất cho dân. Trong thơ văn ông luôn ca ngợi con người, thiên nhiên, dựa vào thơ văn mà bày tỏ tâm trạng của mình với dân với nước. Vì vậy người ta nói Nguyễn Trãi vừa là chiến sĩ vừa là thi sĩ thật không sai.

Nguồn: Vietvanhoctro.com

Loading...
Content Protection by DMCA.com