Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận.

Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận.

Hướng dẫn

Loading...

Tràng giang miêu tả phong cảnh quê hương đất nước, thể hiện tình yêu quê hương đất nước, đồng thời thể hiện nỗi cô đơn, bơ vơ của con người ngay giữa quê hương mình. Đó là tâm sự thầm kín của tác giả, thể hiện nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm được lối ra, nên như kéo dài triền miên.

Trước hết ta chú ý đầu dề bài thơ là Tràng giang chứ không phải “Trường giang”, để ta không lầm với sông Trường Giang, Trung Quốc, hay con sông dài nói chung. Trong tiếng Việt “tràng giang” thường nằm trong thành ngữ “tràng giang đại hải”, chỉ một hiện tượng mênh mông bất tận.

Mở đau bài thơ đúng là một cảnh sông nước mênh mồng bất tận.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả.

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Ngay ở câu đầu của bài thơ, tác giả đã nhắc đến một nói buồn, nói về một nỗi buồn bất tận, bàng một hình ảnh ẩn dụ: Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp như nỗi buồn trùng trùng điệp điệp. Con thuyền thường là hình ảnh tượng trưng cho cuộc đời lênh đênh, cô đơn, vô định, ở đây con thuyền buông mái chèo xuôi dòng (xuôi mái) theo dòng nước nhưng thuyền và nước chỉ “song song” với nhau, chứ không gắn bó gì với nhau. Thuyền đi với dòng để rồi chia li với dòng. Câu thứ ba đã nói tới sự chia li: thuyền về, nước lại sầu trăm ngả. Nước buồn như không biết trôi về đâu. Câu cuối đoạn này càng thể hiện tập trung cho kiếp người nhỏ nhoi lạc lõng vô định.

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Tác giả lưu ý, không phải là gỗ, thân gỗ, mà chỉ là “củi một cành khô”, một mảnh rơi gẫy, khô xác của thân cây.

Cảnh sông nước bao la, vô định, rời rạc, hờ hững, hiện ngang trước mắt nhà thơ. Những đường nét song song, buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, lạc mấy dòng, không hứa hẹn gì về hội tụ, gặp gỡ mà chỉ là chia tan, xa rời. Trên con sông đó một con thuyền một nhánh củi lênh đênh càng tỏ ra nhỏ nhoi, bất lực. Ở đây không chỉ thuyền buồn, cành củi khô buồn, mà cả sóng gợn, sông nước đều buồn.

Khổ thứ hai tiếp tục cái mạch thơ của khổ đầu…

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiểu

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Một cái cồn nhỏ, lơ thơ, vắng vẻ, lại thêm ngọn gió đìu hiu, càng thêm vắng vẻ buồn bã hơn, như bị cuộc sống bỏ quên. Huy Cận nói, ông đã đọc được chữ “đìu hiu” trong câu thơ Chinh phụ ngâm: “Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò” cũng nói về cảnh vắng vẻ, không người. Âm thanh của cuộc sống náo động của các phiên chợ, của làng quê nghe rất xa vắng, càng tăng thêm cảm giác bị bỏ quên ở đây. Hai dòng cuối càng tô đậm thêm cảm giác lạc lõng: nắng xuống, trời lên không chỉ gợi ra khung cảnh nắng chiều, mà bản thân hai hướng lên xuống, như không ăn nhập với nhau, và sông dài, trời rộng càng tăng thêm cái vắng vẻ của bến sông. Cô liêu và vắng vẻ. Trong hai dòng này nhà thơ đã đem đặt bên nhau những yếu tố vốn không có gì là buồn để tạo nên một cảnh buồn. Giữa các yếu tố đó đều có đặt dấu phẩy (,).

Khổ thứ ba vẫn tiếp tục mạch cảm xúc về sự hờ hững, mất hết liên lạc giữa các sự vật.

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Vẫn các sự vật đặt bên nhau: bèo hàng nối hàng, bờ xanh tiếp bãi vàng, hai bờ sông mênh mông không cầu, không đò ngang, tạo thành một thế giới không liên hệ. Từ sóng, thuyền, củi, dòng trôi đến cồn nhỏ, làng xa chợ chiều, rồi nắng xuống, trời lên sông dài, trời rộng, bến vắng, cả hai bờ cũng không có đò ngang, không cầu, bờ tiếp nối bờ lặng lẽ… Mọi vật thì vẫn có, nhưng không vật nào có ý tìm nhau, đến với nhau, cần đến nhau.

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Lớp lớp mây cao đùn ra thành từng núi mây bạc, chữ “đùn” mượn từ thơ cổ của Đỗ Phủ, nói rằng mây trôi ra, lừng lững như núi trên trời. Cánh chim nghiêng nghiêng bay về tổ ấm được cảm nhận như chịu sức nặng của bóng chiều đè xuống. Bóng chiều mông lung bỗng trở thành có hình có khối như có thể cảm nhận được bằng đôi cánh nhỏ. Và cánh chim bay đi đâu cho thoát khỏi cái bóng chiều đang đè nặng xuống mình?

Lòng quê là lòng nhớ quê hương, lấy từ hai chữ “hương tâm”, chứ không phải là tấm lòng chất phác, quê mùa. Dợn là gợn lên, như ta nói sóng dợn, chỉ một chất lỏng xao động chuyển động dâng lên, uốn xuống. Dợn dợn là dợn liên tục, nhiều lần, hô ứng với chữ “sóng gợn”, “điệp điệp” ở dòng đầu bài thơ, không phải là dờn dợn, chỉ mức độ xao động thấp. Chính vì vậy mà nhà thơ phiền lòng khi thấy người ta đọc chệch thành “dờn dợn” hay “rờn rợn”, làm mất ý nghĩa câu thơ.

Cả câu này có nghĩa là lòng nhớ quê hương dâng mãi lên khi phóng tầm mắt nhìn con nước. Chữ “vời” cũng hay, ta cảm thấy như gặp ý câu Kiều:

Bốn phương mây trắng một màu

Trông vời cố quốc biết đâu là nhà?

Lòng nhớ quê được gợi lên từ mây trắng từ cánh chim chiều, nhưng mạnh hơn là từ con nước. Và nhà thơ kết thúc bài thơ bằng câu: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Viết câu thơ này chứng tỏ Huy Cận đã biết có câu thơ Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc lâu do Tản Đà dịch:

Quê hương khuất bóng hoàng hôn.

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Nhà thơ dựa ý thơ Thôi Hiệu để nói ý mình.

Nhiều người, kể cả nhà thơ, khi đọc đến câu này đều nói rằng Huy Cận buồn hơn Thôi Hiệu. Bởi Thôi Hiệu trông khói sóng mới nhớ nhà, còn Huy Cận thì ngược lại, không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Thực ra ai buồn hơn ai làm sao mà xác định được. Điều quan trọng là Huy Cận có một ý thơ khác. Xưa Thôi Hiệu buồn vì cõi tiên mờ mịt, quê nhà cách xa, khói sóng trên sông gợi lên cảnh mờ mịt mà sầu. Nay Huy Cận buồn trước không gian hoang vắng, sóng gợn tràng giang khiến ông nhớ tới quê hương như một nguồn ấm áp. Xưa Thôi Hiệu tìm giấc mơ tiên chỉ thây hư vô, lòng khát khao một cõi quê hương thực tại. Nay Huy Cận một mình đối diện với khung cảnh vô tình, dợn lên nỗi khát khao quê nhà ấm áp. Một đăng ý thức về thực tại, một đằng là ý thức về tình người.

Nhưng Tràng giang là một bài thơ vẽ lên một phong cảnh dẹp, giàu màu sắc (núi bạc, bờ xanh, bãi vàng), nhiều đường nét hùng vĩ, mở ra, vô tận (buồn điệp điệp, sâu chót vót, sông dài, trời rộng…), nhiều tương phận, nhiều dộng từ chỉ sức sống rộn ràng, sóng gợn, mây đùn, thuyền về, nước lại, nắng xuống, trời lên… Cái buồn của bài thơ rõ ràng không phải do cảnh vật tàn phai, không gian chật hẹp tù túng, mọi vật chết chóc ngưng đọng. Cái buồn như toát ra từ cấu tạo của thế giới, từ cái đẹp thiếu tình người, từ một sự mất liên lạc có tính phổ quát gây nên. Một cái buồn đậm màu triết lí. Nỗi buồn này cũng phản ánh sự đổi thay của đời sống xã hội; xã hội cộng đồng truyền thống vô vàn mối dây liên hệ đã đứt tung để thay vào một xã hội đô thị với vô vàn cái tôi rời rạc, bơ vơ.

Cảnh vật càng rộng, càng làm cho người ta nhớ đến nỗi buồn sâu kín trong lòng. Tác giả đã dùng những vần thơ độc đáo để nói lên cái buồn ấy

Nguồn: Vietvanhoctro.com

Loading...
Content Protection by DMCA.com