Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Hướng dẫn

Loading...

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, thể hiện cái tài và cái tâm của nhà thơ, nhà thơ đa tái hiện một thời kì lịch sử của dân tộc đầy đau thương nhưng vĩ đại. Bằng ngòi bút sắc sảo, văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã thể hiện tấm lòng yêu nước, sự chua xót trước vận mệnh của dân tộc. Giá trị về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đã góp vào kho tàng văn học dân tộc một tác phẩm xuất sắc, có ý nghĩa muôn đời.

Bài văn tế ra đời đã mở đầu cho dòng văn yêu nước chống Pháp nửa sau thế kỉ XIX. Bài văn được xây dựng trên cơ sở người thật, việc thật, cho nên ý nghĩa của nó càng trở nên sâu sắc… Nó đã thôi thúc, làm sôi sục ý chí đấu tranh của toàn dân tộc, góp phần vào thắng lợi sau này của dân tộc.

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ra đời và được người đời chấp nhận ngay bởi tiếng nói đầy thương cảm, bởi cái hay của văn chương bình dị, lời văn man mác, lắng động một nỗi đau vì dân vì nước. Mở đầu bài tế là lời than nghe thật chua xót:

Hỡi ơi! Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ

Với một câu văn ngắn ngủi, tác giả đã phác họa lên hoàn cảnh đau thương của nhân dân trong xã hội lúc bấy giờ. Kia là cuộc xâm lăng ào ạt, bạo tàn của kẻ thù và kia là bộn phận, ý chí chống quân bạo tàn đó của người nông dân. Nhân dân đau xót trước bao tang thương, áp bức nhưng ai có thể hiểu được lòng dân chứ. Họ chỉ tin có trời: "Lòng dân trời tỏ" vì chỉ có trời mới thấu hiểu được lòng dạ họ, chứ cái bọn vua tôi hèn hạ kia nào biết gì, họ chỉ biết tự xưng danh mà thôi. Những con người nông dân ngày đêm chỉ quen cuốc quen cày, họ có ngờ đâu những tai biến sẽ xảy ra.

Mười năm công vỡ ruộng, chưa chắc còn danh nổi tợ phao

Một trận nghĩa đánh Tây tuy là mất tiếng vang như mõ

Chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhung, chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ…

Những người nông dân ấy đang có cuộc sống rất giản dị trong thôn xóm, lam lũ nghèo khó. Họ chỉ biết cui cút làm ăn và chỉ cần có miếng cơm anh áo. Họ chỉ biết có thế, việc gươm đao cung kiếm họ chưa từng biết. Thế mà họ vẫn giàu lòng yêu nước và căm thù giặc, họ căm thù đến mức cao độ "muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ". Điều này thể hiện rất rõ cá tình của người nông dân.

Điều đáng nói là, những người chiến sĩ ấy xuất thân từ những người nông dân nghèo khổ. Việc đánh giặc không phải là việc của họ, mà vì lòng yêu nước căm thù giặc, chờ đợi quân quan mãi nhưng nào thấy, đành làm những việc lớn, phải "chém rắn", "đuổi hươu"… Thực tế ta thấy được thái độ ươm hèn của triều đình nhà Nguyễn và càng đề cao hơn vai trò của người nông dân trước vũ đài lịch sử.

Những người nông dân chân đất ấy đã không làm sao chịu được cảnh quân giặc giày xéo lên mồ mả tổ tiên… và họ quyết định phải đứng lên đánh chúng, đánh bằng được bọn tàn ác đó.

Mười tám ban võ nghệ nào đợi tập rèn

Chín chục trận binh thư chưa chờ bày bố

Ngoài cật có một mang áo vải,

Nào đợi mang bao tấu bầu ngòi,

Trong tay cầm một ngọn tầm vông,

Chi nài sắm dao tu, nón gõ.

Với lòng dũng cảm và tinh thần quyết tâm chiến đấu của mình, bây giờ họ không cần gì hết, cũng không cần đợi tập rèn, trong tay có gì đánh nấy. Từ những công cụ thô sơ cũng trở nên quan trọng, quý hiếm và có tác dụng đối với họ.

Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi,

Cũng đốt xong nhà dạy đạo kia,

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay,

Cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

Từng câu từng chữ trong bài văn thể hiện sự căm tức, oán trách bọn vô trách nhiệm. Phải chăng, ngòi bút của Nguyễn Đình Chiều đã diễn tả thật sinh động hình ảnh người nông dân đó chăng? Và chỉ vài câu văn cũng bật rõ phần nào lòng trung nghĩa của nhà thơ Đồ Chiểu.

Rồi cứ thế, người nghĩa quân nông dân tiếp tục bước vào cuộc chiến đấu với khí thế mạnh như vũ bão:

Kẻ đâm ngang, người chém dọc

Làm cho Mã tà, Ma ní hồn kinh….

Họ chiến đấu anh dũng với sức mạnh ý chí và lòng căm thù giặc. Họ liều mạng chăng? Không! Bởi vì họ yêu nước. Đọc bài tế ở đoạn này nào là:

Chi nhọc quan quản trống kì trống giục.

Đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không.

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to…

Liều mình như chẳng có…

Nào là: Kẻ đâm ngang, người chém ngược….

Với ngòi bút sắc sảo của mình, Nguyễn Đình Chiểu giúp người đọc có liên tưởng như chính tác giả cũng đang tung hoành ngang dọc cùng với nghĩa quân trên chiến trường. Giọng văn hào hùng sảng khoái, nhịp điệu dồn dập, sôi nổi thể hiện rõ khí thế của trận công đồn. Nào là tiếng hò, ó; tiếng đạn nổ cùng với ngọn lửa đốt đồn giặc cháy sáng rực giữa dòng sông Cần Giuộc… Những yếu tố này đã xây dựng thành công hình tượng của người nông dân cứu nước giết giặc. Đây là một hình tượng độc đáo trong văn học cổ điển Việt Nam. Và kia! Bên cạnh những hình ảnh đó là cảnh quan quân nhà Nguyễn nhỏ bé, thấp kém. Bây giờ họ không còn ra gì nữa. Thật: "Ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu là tâm hồn của ông đã được diễn tả thật sinh động và não nùng cảm tình của dân tộc đối với đất nước. Ở đây Nguyễn Đình Chiểu là tâm hồn của ông đã đại diện, đã thay mặt cho dân tộc, cho tình cảm dân tộc đẻ viết ca ngợi về người chiến sĩ ấy. Nhưng mặt khác, nếu như cụ Đồ không có lòng trung nghĩa thì việc thay mặt cũng quả là khó. Thơ văn ông thường là hồn, là tâm của ông. Vì vậy, khi đối diện với những người nghệ sĩ, đối diện với tang thương thì làm sao nhà thơ không tuôn dòng lệ xót:

Đoái sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dặm sầu giăng,

Nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai làng lụy nhỏ.

Cuộc chiến đấu đang diễn ra gay go ác liệt, thế mà bỗng nhiên như có gì hụt hẫng, khựng lại. Người nghĩa quân đang hăng say chiến đấu trên chiến trường không hề sợ cái chết những tưởng tấm lòng mến nghĩa sẽ lâu dài… thế nhưng sao tránh khỏi cảnh hi sinh…

Bằng lời văn của mình tác giả đã bày tỏ sự xót thương cho những người dân ấp dân lân chỉ biết cui cút làm ăn, nhưng khi giặc đến thì mặc dầu chỉ có những dụng cụ thô sơ mà dám liều mạng giết giặc. Nay họ đã ngã xuống trên chiến trường, thì tác giả lại càng thương tiếc gấp bội. Và dường như cả cỏ cây, trời đất cũng buồn bã, ảm đạm:

Đoái sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dặm sầu giăng,

Nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai làng lụy nhỏ.

Dọc hai bờ sông Cần Giuộc cỏ cây ủ rũ một màu tang, chợ Trường Bình thì già trẻ tuôn hai hàng lụy nhỏ. Tất cả mọi người đều khóc thương những nghĩa quân đã bỏ mình vì nước. Không làm sao ngăn được dòng nước mắt khi đi đến đâu cũng lưu giữ hình bóng họ:

Chùa Tân Thạnh, năm canh ưng đóng lại

Tấm lòng son gởi lại bóng trăng rằm…

Nhìn lại những cảnh vật ngày xưa thì lòng tác giả dâng lên một niềm thương tiếc, căm giận. Căm bọn bất lương, loài ác quỷ bất nhân; thương tủi cho số phận ngắn ngủi, nhỏ nhoi của những nghĩa quân, của những người đứng lên vì đạo nghĩa. Họ đã mất đi là mất hết tất cả; Mất gia đình, người thương. Và gia đình họ mất đi một chỗ nương tựa:

Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ N

gọn đèn khuya leo lét trong lều

Não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng

Con bóng xế dật dờ trước ngõ

Thật là đau khổ biết dường nào khi người con và người chồng đã ra đi để lại sau lưng những tiếng kêu ré đau lòng thê lương, thảm thiết. Người vợ chạy tìm chồng trong không gian vô tận, trong cái dật dờ của nửa tỉnh nửa mê. Hình dáng mẹ già không còn nước mắt nhưng vẫn khóc, khóc những tiếng khóc đắng cay cõi lòng.

Cảm xúc chân thành, lớn lao của tác giả đã đem lại cho đoạn văn chất trữ tình đặc biệt, tác động mạnh vào tâm hồn người đọc. Nguyễn Đình Chiểu đặc biệt đề cao cái chết vẻ vang của người nghĩa quân. Chinh vì vậy mà ông khẳng định quan điểm sống của người nghĩa sĩ "chết vinh còn hơn sống nhục".

Thà thác mà đặng câu địch khái

Về theo tổ phụ cũng vinh,

Còn hơn mà chịu chữ đầu

Tây Ở với man di rất khổ

Chết như vậy mới thật sự là cái chết của người nghĩa quân, chết để được trả nợ với nước non, để đem lại danh thơm cho muôn thuở. Qua những cái chết đó, tác giả đã phê phán lối sống hèn hạ của bọn "tay sai bán nước bán dân".

Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương

Vì ai xui đồn lũy tan tành xiêu mưa ngã gió

Sống làm chi theo quân tà đạo,

quăng vùa hương xô bàn độc, thấy lại thêm buồn

Sống làm chi ở lính mã tà,

chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm khổ…

Điệp từ "vì ai", "sống làm chi", như đè nén sự căm tức, như lên án kết tội, như giày vò lũ tay sai bán nước – chính là nguyên nhân của mọi đau thương, tang tóc… Càng phê phán lối sống tôi mọi của bọn thống trị bao nhiêu thì Nguyễn Đình Chiểu càng đề cao cái chết vinh quang của nghĩa quân bấy nhiêu. Đó là ý của Nguyễn Đình Chiều: Ông luôn muốn những người nghĩa sĩ đó sống mãi trong lòng dân tộc, đất nước. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu một lần nữa khẳng định quan niệm sống cao đẹp của người Việt Nam thông qua những tấm gương hi sinh sáng chói. Vì vậy nên đồng chí Phạm Văn Đồng đã nhận định một cách đúng đắn về cụ Đồ Chiểu: "Ngòi bút… Xưa kia chỉ quen cày cuốc bỗng chốc trở thành môt người anh hùng cứu nước…"

Kết thúc bài tế là những câu nghe như lời tâm huyết: Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc

linh hồn theo giúp cơ binh

muôn kiếp nguyện trả thù kia…

Người đã chết đi nhưng lòng vẫn còn đó, ý chí đó vẫn còn. Phải chăng trong suy nghĩ của tác giả, linh hồn nghĩa sĩ vẫn núi chặt lấy cuộc sống để theo đuổi sự nghiệp đánh giặc cứu nước đến cùng. Có lẽ Nguyễn Đình Chiểu đã quan niệm rằng "những cái gì chính nghĩa thì không thể nào tiêu diệt được…"

Những chiến sĩ năm đó đã hi sinh, nhưng lòng yêu nước và ý chí căm thù giặc của những nghĩa sĩ đó không bao giờ phai mờ trong lòng mỗi người dân. Họ là những con người đáng khâm phục, đáng trân trọng, tinh thần chiến đấu đó trở thành biểu tượng vĩ đại của dân tộc, góp phần vào tháng lợi vẻ vang của dân tộc.

Nguồn: Vietvanhoctro.com

Loading...
Content Protection by DMCA.com