Theo quy định của pháp luật lao động hiện hành, khi hợp đồng lao động (“HĐLĐ”) hết hạn và khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ, người sử dụng lao động (“NSDLĐ”) đều có trách nhiệm thông báo cho người lao động (“NLĐ”). Tuy nhiên, việc thông báo trong hai trường hợp này có một số điểm khác biệt mà NSDLĐ và NLĐ cần nắm rõ để tránh xảy ra tranh chấp ví dụ như khi chấm dứt HĐLĐ do hết hạn, NLĐ yêu cầu công ty phải thông báo như trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Tiêu chí Thông báo chấm dứt hợp đồng lao động theo Điều 45 BLLĐ 2019 Báo trước trong trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo Điều 36 BLLĐ 2019 Thời điểm ban hành thông báo Pháp luật lao động hiện hành chưa có quy định cụ thể về thời điểm ban hành thông báo. Như vậy, NSDLĐ có thể chủ động về mặt thời gian khi ban hành thông báo này. Tùy thuộc vào loại HĐLĐ, NSDLĐ phải báo về việc chấm dứt HĐLĐ trước ít nhất 03, 30, hoặc 45 ngày.
Lưu ý: Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù, thời hạn này có thể lên đến 120 ngày.
Tính hợp pháp của việc chấm dứt HĐLĐ trong trường hợp không ban hành thông báo Trường hợp NSDLĐ không ban hành thông báo chấm dứt HĐLĐ thì việc chấm dứt HĐLĐ vẫn hợp pháp.
Như vậy, việc ban hành thông báo chấm dứt là một thủ tục, công việc hành chính và không làm ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của việc chấm dứt HĐLĐ.
Trường hợp NSDLĐ không báo trước theo thời hạn nêu trên cho NLĐ thì việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ sẽ trái luật theo Điều 39 BLLĐ 2019.
Như vậy, việc báo trước là điều kiện để việc đơn phương chấm dứt hợp đồng hợp pháp.
Hậu quả pháp lý trong trường hợp không ban hành thông báo
- Nếu sau khi HĐLĐ hết hạn, NLĐ vẫn tiếp tục làm việc thì việc không ban hành thông báo sẽ không bị xử phạt hành chính.
- Trường hợp NLĐ không tiếp tục làm việc thì hành vi không ban hành thông báo sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đến 6.000.000 VNĐ.
NSDLĐ (là tổ chức) sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đến 6.000.000 VNĐ.
Bên cạnh trách nhiệm hành chính, NSDLĐ còn phải chịu trách nhiệm với NLĐ như sau:
1. NSDLĐ phải nhận người lao động trở lại làm việc và phải trả các khoản tiền sau:
- Tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc;
- Một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ; và
- Một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước về việc chấm dứt HĐLĐ.
2. Trường hợp NLĐ không muốn tiếp tục làm việc: ngoài khoản tiền phải trả tại mục i, NSDLĐ phải trả trợ cấp thôi việc.
3. Trường hợp NSDLĐ không muốn nhận lại NLĐ và NLĐ đồng ý: ngoài khoản tiền phải trả tại mục i và mục ii, NSDLĐ phải khoản tiền bồi thường ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ.
Bài viết liên quan:
1/ Người lao động và Người sử dụng lao động có thể thỏa thuận thanh toán tiền trợ cấp thôi việc trước khi chấm dứt hợp đồng lao động được không?
2/ Người lao động xin thôi việc là thỏa thuận hay đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động?
3/ Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và Xử lý kỷ luật lao động – Lối đi nào Người sử dụng lao động?