3. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Cụ thể:
3.1.Mở bài: 0.25
– Giới thiệu Tố Hữu và bài thơ “Việt Bắc”.
– Nêu vấn đề cần nghị luận
3.2.Thân bài: 3.50
a. Khái quát về bài thơ, đoạn thơ: 0.25 đ
– Về hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, cảm hứng chung của tác phẩm;
– Vị trí, nội dung đoạn thơ.
b. Cảm nhận nội dung, nghệ thuật đoạn thơ: 2.5đ
– Về nội dung: (2.0đ):
+ Mở đầu đoạn thơ là câu lục bát giới thiệu, mang cảm xúc chung cho toàn đoạn, là lời người cán bộ kháng chiến về xuôi hỏi người ở lại :
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Câu hỏi tu từ “mình có nhớ ta ”vừa là lời thoại nhưng đồng thời vừa là cái cầu nối sang câu dưới, là cái cớ để bày tỏ tấm lòng của mình. Cách xưng hô “mình – ta ” vốn là cách xưng hô quen thuộc trong ca dao xưa để nói về tình cảm nam nữ và nó đi vào trong thơ Tố Hữu nhẹ nhàng mà đằm thắm.
Nhớ nhất, lưu luyến nhất “hoa cùng người ”. “Hoa ” ở đây là thiên nhiên; thiên nhiên đẹp, tươi sáng như “hoa ” vậy. Hòa vào thiên nhiên ấy là con người. “Hoa cùng người ” là hai đường nét khăng khít không thể tách rời trong bức tranh bốn mùa Việt Bắc. Hai câu thơ mở đầu đã thể hiện rõ chủ đề đoạn thơ, đó là “hoa và người ” Việt Bắc.
+ Tám câu thơ tiếp theo lại tràn ngập ánh sáng, đường nét và màu sắc tươi tắn. Cảnh và người hòa quyện vào nhau.
+ Mùa đông nhớ màu “xanh ” của núi rừng Việt Bắc, nhớ màu “đỏ tươi ” của hoa chuối như những ngọn lửa thắp sáng rừng xanh; nhớ người đi nương đi rẫy “dao gài thắt lưng” trong thế mạnh mẽ hào hùng đứng trên đèo cao “nắng ánh ”.
+ Màu “xanh ” của núi rừng, màu “đỏ tươi ” của hoa chuối, màu sáng lấp lánh của “nắng ánh ” từ con dao… đã hòa hợp với nhau làm nổi bật sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của thiên nhiên Việt Bắc, con người Việt Bắc đang làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời trong kháng chiến. Tố Hữu đã có một cái nhìn phát hiện về sức mạnh tinh thần làm chủ tập thể của nhân dân ta do cách mạng và kháng chiến mang lại. Người lao động sản xuất thì hào hùng đứng trên “đèo cao ” nắng ánh và lộng gió.
+ Nhớ ngày xuân Việt Bắc là nhớ hoa mơ “nở trắng rừng”. Chữ “trắng” là tính từ chỉ màu sắc được động từ hóa, gợi lên một thế giới hoa mơ bao phủ khắp mọi cánh rừng Việt Bắc màu trắng thanh khiết, mênh mông và bao la.
+ Nhớ “mơ nở trắng rừng”, nhớ người thợ thủ công đan nón “chuốt từng sợi giang”. Có khéo léo, kiên trì, tỉ mỉ mới có thể “chuốt từng sợi giang” để đan thành những chiếc nón, chiếc mũ phục vụ kháng chiến. Người đan nón được nhà thơ nói đến tiêu biểu cho vẻ đẹp tài hoa của đồng bào Việt Bắc.