Thói nhìn trộm là một dạng của rối loạn lệch lạc tình dục, nhưng hầu hết những người có sở thích nhìn trộm không đáp ứng các tiêu chuẩn lâm sàng của rối loạn lệch lạc tình dục, trong đó hành vi, tưởng tượng hoặc ham muốn mãnh liệt của người đó dẫn đến đau khổ đáng kể về mặt lâm sàng hoặc suy giảm chức năng hoặc gây hại cho người khác (trong thị dâm bao gồm cả việc hành động theo ham muốn với một người không đồng ý) (1). Tình trạng bệnh cũng phải kéo dài ≥ 6 tháng trước khi có thể đưa ra chẩn đoán.
Sự loạn dục nhìn trộm thường bắt đầu trong giai đoạn vị thành niên hoặc giai đoạn sớm của tuổi trưởng thành. Loạn dục nhìn trộm tuổi vị thành niên thường được xem xét nhẹ nhàng hơn; một vài vị thành niên cũng đã bị bắt vì điều này. Khi loạn dục nhìn trộm trở thành bệnh lý, những người loạn dục nhìn trộm dành thời gian đáng kể để tìm kiếm các cơ hội nhìn trộm, thường để né tránh việc thực hiện những trách nhiệm quan trọng trong cuộc sống của họ. Cực khoái thường đạt được bằng cách thủ dâm trong hoặc sau khi thực hiện hoạt động nhìn trộm. Những người nhìn trộm không tìm kiếm sự tiếp xúc tình dục với những người đang được quan sát.
Mong muốn quan sát người khác trong các tình huống tình dục là điều bình thường và bản thân nó không phải là bất thường. Việc xem riêng những hình ảnh và video khiêu dâm hiện đang phổ biến rộng rãi trên internet cũng không được coi là hành vi thị dâm vì nó thiếu yếu tố quan sát bí mật, vốn là đặc điểm của hành vi thị dâm. Tuy nhiên, với sự thu hẹp của camera giám sát và sự thịnh hành của camera điện thoại di động, hành vi quay lén bằng video liên quan đến những người không đồng ý cởi đồ hoặc tham gia vào hoạt động tình dục ngày càng phổ biến và thường bị coi là tội phạm ở hầu hết các quốc gia.
Ở nhiều nền văn hoá, những người có tình trạng thị dâm có nhiều cơ hội pháp lý để xem quan hệ tình dục (ví dụ: kỹ thuật số hoặc bản in sách ảnh khiêu dâm). Tuy nhiên, các hành vi nhìn trộm là những hành vi tình dục phổ biến nhất mà đưa đến việc phạm luật mức độ nhẹ. Trong 1 nghiên cứu cắt ngang về 17 người đàn ông bị kết án vì tiền sử theo dõi người khác, các yếu tố tiền thân dẫn đến chẩn đoán rối loạn thị dâm bao gồm các bệnh lý tâm thần đi kèm, rối loạn điều hòa cảm xúc, kỹ năng đối phó kém, ham muốn tình dục thái quá, khó khăn trong các mối quan hệ và nhiều yếu tố gây căng thẳng trong cuộc sống (2).
Hầu hết những người có hành vi thị dâm không đi khám; do đó, rất khó để xác định chính xác mức độ phổ biến của rối loạn thị dâm trong cộng đồng nói chung. Tỷ lệ phổ biến của hành vi thị dâm (chứng thị dâm) dao động từ 10 đến 40% đã được báo cáo. Tuy nhiên, các tỷ lệ này bị hạn chế ở chỗ thường dựa trên các thiết kế nghiên cứu không tối ưu (3). Trong một nghiên cứu dựa trên dân số, khoảng 12% số nam giới và 4% số nữ giới báo cáo ít nhất 1 lần có hành vi thị dâm (4). Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nam giới và nữ giới thị dâm là 2:1 đến 3:1 (4, 5). Hầu hết dữ liệu là từ các nghiên cứu về tội phạm tình dục bị giam giữ, không phải từ các mẫu cộng đồng. Những người có rối loạn thị dâm được nghiên cứu trong môi trường nhà tù có thể mắc chứng tăng dục, rối loạn phô bày, trầm cảm, rối loạn hành vi hoặc rối loạn nhân cách chống đối xã hội; do đó, những nghiên cứu này có thể bị ảnh hưởng bởi sự sai lệch về lựa chọn.