Mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu bước ngoặt lịch sử trọng đại trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Với Cương lĩnh chính trị đúng đắn, Đảng đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam vượt qua bao ghềnh thác, khó khăn, giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cho đến nay, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng vẫn giữ nguyên giá trị, vẫn là ngọn cờ dẫn lối cho cách mạng Việt Nam tiến bước trên con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và dân tộc đã lựa chọn.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối lãnh đạo
Thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đang phát triển mạnh, các nước phương Tây đua nhau xâm chiếm thuộc địa, tìm kiếm thị trường. Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược nước ta. Trước họa xâm lăng, nhân dân Việt Nam liên tục đấu tranh, tìm kiếm kế sách chống lại kẻ thù. Nhưng cuối cùng các cuộc khởi nghĩa đều bị thực dân Pháp đàn áp.
Bước sang thế kỷ XX, phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam chịu sự tác động của các cuộc cách mạng tư sản, với hai khuynh hướng chủ yếu là bạo động và bất bạo động do Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh khởi xướng.
Cả hai khuynh hướng tạo động lực mới cho nhân dân cả nước đứng lên chống ngoại xâm. Sau một thời gian liên tục diễn ra, đến cuối thập niên đầu của thế kỷ XX, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản lần lượt bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt, hoàn toàn bế tắc về đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc.
Nhận biết được điều đó, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân tộc. Người đã bôn ba qua nhiều nước đế quốc và thuộc địa, khảo sát, phân tích lý luận, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn, cuối cùng Người đã lựa chọn chủ nghĩa Mác – Lênin, xác định con đường cứu nước, giải phóng dân tộc là cách mạng vô sản. Người tin theo và vận dụng sáng tạo lý luận Mác – Lênin để hoạch định con đường cách mạng Việt Nam: chuẩn bị các tiền đề để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, tạo cơ sở về tổ chức cho sự phát triển lâu dài, bền vững của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người theo con đường cách mạng vô sản.
Người sớm xác định rõ: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam… Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(1).
Định hướng đúng đắn đó nhanh chóng đưa tới sự phát triển của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và những chuyển biến tích cực của Đảng Tân Việt; phong trào công nhân, nông dân và các tầng lớp khác không ngừng mở rộng và phát triển về quy mô và vận động theo xu hướng vô sản, tác động tích cực lẫn nhau dẫn tới sự ra đời của 3 tổ chức cộng sản Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn; đồng thời cũng đặt ra yêu cầu thống nhất các tổ chức cộng sản.
Trước yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thực hiện sứ mệnh lịch sử hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ra đời đã xác định cương lĩnh cách mạng, tạo cơ sở vững chắc về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự nghiệp đấu tranh giành tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam, chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối lãnh đạo cách mạng. Ý nghĩa lịch sử của sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta, Nó chứng tỏ giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”(2).