Thơ Quang Dũng mang nét riêng với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu và lãng mạn. Ông là một trong những nhà thơ tài năng, trưởng thành từ kháng chiến chống Pháp. Vì vậy đại đa số các tác phẩm mà Quãng Dũng sáng tác đều liên quan đến chủ đề người lính và kháng chiến.
Những bài thơ Quang Dũng được yêu thích
Các bài thơ của Quang Dũng gắn liền với kháng chiến và cuộc sống của những người lính trong thời buổi đất nước khó khăn. Từng là một người lính, Quang Dũng thấu hiểu nỗi lòng, sự vất vả và tinh thần quyết tâm của người lính Việt. Từ đó, ông đưa những tâm tư tình cảm vào trong từng câu chữ.
Tây Tiến
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
*
Doanh trại bừng lên hội đuốc, hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
*
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành
*
Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.
Lời bình:
Tây Tiến là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Quang Dũng, phản ánh tâm hồn lãng mạn và bi tráng của người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Với hình ảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, bài thơ gợi lên không khí hào hùng của những người lính trẻ, vừa yêu nước, vừa đắm chìm trong cảnh sắc thiên nhiên. Tác giả đã khéo léo kết hợp giữa tình yêu quê hương và nỗi nhớ đồng đội, tạo nên một bức tranh sinh động về cuộc sống nơi chiến trường.

Mắt người Sơn Tây
Em ở thành Sơn chạy giặc về Tôi từ chinh chiến cũng ra đi Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì
Vừng trán em vương trời quê hương Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm Em có bao giờ em nhớ thương?
Từ độ thu về hoang bóng giặc Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ Em có bao giờ lệ chứa chan
Mẹ tôi em có gặp đâu không Những xác già nua ngập cánh đồng Tôi nhớ một thằng con bé nhỏ Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông
Đôi mắt người Sơn Tây U uẩn chiều lưu lạc Buồn viễn xứ khôn khuây Tôi gửi niềm nhớ thương Em mang giùm tôi nhé Ngày trở lại quê hương Khúc hoàn ca rớm lệ
Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng
Bao giờ tôi gặp em lần nữa Chắc đã thanh bình rộn tiếng ca Đã hết sắc mùa chinh chiến cũ Em có bao giờ em nhớ ta?
Lời bình:
Mắt người Sơn Tây không chỉ là một bài thơ về vẻ đẹp của con người mà còn là một tác phẩm thể hiện sự gắn bó sâu sắc giữa con người và thiên nhiên. Đôi mắt Sơn Tây được miêu tả với những cảm xúc mãnh liệt, biểu trưng cho sự kiên cường và tâm hồn nhạy cảm của người dân nơi đây. Tác giả đã tạo ra một hình ảnh đẹp đẽ, kết hợp giữa tính cụ thể và biểu tượng, khắc họa sự sâu sắc của con người trong khung cảnh núi rừng.
Đôi bờ
Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai? Sông xa từng lớp lớp mưa dài Mắt kia em có sầu cô quạnh Khi chớm thu về một sớm mai?
Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự Kinh thành em có nhớ bên tê? Giăng giăng mưa bụi quanh phòng tuyến Hiu hắt chiều sông lạnh bến tề.
Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ Thoáng hiện em về trong đáy cốc Nói cười như chuyện một đêm mơ
Xa quá rồi em người mỗi ngả Đôi bờ đất nước nhớ thương nhau Em đi áo mỏng buông hờn tủi Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?
Lời bình:
Đôi bờ là bài thơ thể hiện tình yêu và nỗi nhớ của tác giả về quê hương, với những hình ảnh gần gũi của dòng sông, bờ cát. Bài thơ mang âm hưởng tâm tình, với những câu thơ tràn đầy cảm xúc. Quang Dũng đã khéo léo sử dụng những hình ảnh cụ thể để diễn tả tình cảm sâu sắc, vừa lãng mạn vừa đau thương.
Mây đầu ô
Mây ở đầu ô mây lang thang Ôi! Chật làm sao Góc phố phường Mây ở đầu ô Hẹn những chân trời xa lạ Qua một ngọn cột đèn
Chiều tối lại bừng con mắt đỏ Cành bàng mái cũ khẳng khiu Vườn đẹp khi mùa rụng lá Cành bàng lại mở tàn xanh Mùa hạ về theo chim sẻ Nhưng ta có gì Tự thấy những ngày không tẻ?
Mây trắng lang thang Gió đuổi bời bời phố chật Những lớp người hai mươi tuổi Ca nước đập vỏ bình toong Khăn mặt thấm mồ hôi Bụi đỏ Bụi vàng Trung du bóng cọ Nắng đốt màu da họ Là nắng triền cao Tay sém ngấn mặt trời Là trời công trường xa tít tắp Áo ngực xanh yếm biển Bay bay dãi mũ Hải Quân Những gã hai mươi mùa xuân Từ đâu thổi vào thành phố?… Mây mùa thu Lọt qua trời hẹp ngõ Lướt nhanh qua mái ngói ba tầng Tiếng dương cầm… Ta theo tiếng nhạc Bay khỏi mái nhà
Ta mê xanh thẳm Như cánh chim trời Thấy Mình còn sức trẻ Ơi! Những bạn tôi Vào lớp tuổi năm mươi Mây ở đầu ô Trời xanh lộng thế…
Lời bình:
Quang Dũng đã vẽ lên bức tranh của thiên nhiên và con người, thể hiện tâm trạng của người lính giữa núi rừng Tây Bắc. Hình ảnh “mây đầu ô” không chỉ biểu trưng cho sự hùng vĩ của thiên nhiên mà còn là nỗi trăn trở và hoài niệm của con người. Tác giả đã khéo léo kết hợp giữa hiện thực và cảm xúc, tạo ra một không gian nghệ thuật đầy ám ảnh.
Quán bên đường
Tôi khách qua đường, trưa nắng gắt Nghỉ nhờ đây quán lệch tường xiêu Giàn mướp nghèo không hứa hẹn bao nhiêu Mùa gạo đắt, đường xa, thưa khách vắng
Em đắp chăn dầy, tóc em trĩu nặng Tôi mồ hôi ra ngực áo chan chan… Đường tản cư bao suối lạ sương ngàn Em mê sảng sốt hồng đôi má
Em có một mình nhà hoang vắng quá Mảnh chăn đào em đắp, có hoa thêu Hàng của em, chai lọ xác xơ nghèo Tôi nhìn lại mảnh quần xưa đã vá
Tôi chợt nhớ chúng ta không nhà cửa Em tản cư, tôi là lính tiền phương Xa Hà Nội, cùng nhau, từ một thuở Lòng rưng rưng thương nhau quá dọc đường
Tiền nước trả em rồi. Nắng gắt Đường xa xa mờ núi và mây Hồn lính vương vài qua sợi tóc Tôi thương mà em đâu có hay…
Lời bình:
Quán bên đường mang đến một không khí ấm áp và thân thuộc của những buổi chiều tà bên quán nhỏ. Qua những hình ảnh giản dị và chân thật, bài thơ gợi nhớ về những kỷ niệm đẹp trong cuộc sống, thể hiện tâm hồn lãng mạn của tác giả. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu hình ảnh, mang đến sự gần gũi và cảm xúc sâu sắc cho người đọc.
Không đề (I)
Em mãi là hai mươi tuổi Ta mãi là mùa xanh xưa Những cây ổi thơm ngày ấy Và vầng hoa ngâu mưa thu Tóc anh đã thành mây trắng Mắt em dáng thời gian qua
Ngày nay ngày nay Chuyện đẹp qua đi Thời gian gấp ruổi Còn lại chúng ta Em mãi là hai mươi tuổi Ta mãi là mùa xanh xưa Giữ trọn tình người cho đẹp
Ơi! Con đường xưa Những mùa trút lá Cành bàng mồ côi Cổng cũ rêu phong Ý đợi người
Ơi! Con đường xưa Men vườn ổi thơm Em tuổi hai mươi Yêu anh hào hiệp
Bỏ em, anh đi Đường hai mươi năm Dài bao chia ly
Có những vợ chồng Không là trăm năm Mà tình thương yêu […]
Sông ơi! Dài sao Rộng ơi! Biển cả Thôi em nước mắt Đừng rơi lã chã!
Em mãi là hai mươi tuổi Ta mãi là mùa xanh xưa… Giữ trọn tình người cho đẹp.
Lời bình:
Bài thơ thể hiện những trăn trở của tác giả về cuộc sống và cái đẹp. Quang Dũng đã sử dụng ngôn ngữ tinh tế để thể hiện những suy tư sâu sắc, tạo nên một không gian thơ đầy trăn trở. Đây là một trong những bài thơ hay của Quang Dũng mở ra nhiều tầng ý nghĩa, khơi gợi sự suy nghĩ và cảm nhận của người đọc về cuộc sống.
Lính râu ria
Khuya khoắt sông bờ vắng
Lửa hồng quán tản cư
Lính mấy chàng vất vả
Tìm sống một đêm thơ
Một người kêu cà-phê
Một anh gọi thuốc lá
Một người nhìn sau trước…
– Chị ơi! Ly rượu nhỏ!
Rượu nhỏ một ly thôi
Một ly cho đỏ mặt
Cho lên hương cuộc đời
– Chị ơi! Cháu ngủ đâu
Rồi anh bế con chị
Anh lim dim cúi đầu
Cô bé cười chúm chím
Mắt non nhìn như sao
Đôi mắt nhìn như sao
Má hồng như trái mận
Mùa đang độ ngọt ngào!
Bàn tay như rễ cây
Bộ râu hơn bàn chải
Anh ôm con người ta
Anh ôm ghì nó mãi
Cô bé năm tháng trời
Tuổi anh vừa ba mươi
Vợ anh giờ này đâu?
Anh mỉm cười rười rượi
Khi anh về đã xa
Chị dọn hàng đi ngủ
Chép miệng trong hơi chăn
Chị buồn chi không rõ
Khuya khoắt sông bờ vắng
Tiếng súng rền xa xa
Lính mấy chàng phanh ngực
Hát nhẹ lên bài ca…
Lời bình:
Lính râu ria khắc họa chân dung những người lính với hình ảnh gần gũi, thân thuộc. Qua đó, Quang Dũng đã thể hiện tình cảm yêu mến và sự tôn trọng đối với những người đã hy sinh vì độc lập dân tộc. Bài thơ vừa mang tính tự sự vừa lãng mạn, làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn và sự mạnh mẽ của con người.

Bố Hạ
Cuối năm trên đường đi Bố Hạ
Tháng chạp mùa cam lửa đốm vườn
Bãi sỏi quanh co dòng nước chậm
Cheo leo cầu tạm vắt sông Thương
Xe ngựa bình yên leo dốc đỏ
Cuối năm trên đường đi Bố Hạ
Đỉnh đồi quán sậy dựng phên lau
Ngựa dừng rủ bụi than tàu hoả
Đường ấp chia tay khách hỏi chào
Cuối năm trên đường đi Bố Hạ
Ruộng bậc thang còn trơ gốc rạ
Rừng núi mờ xa khói trẻ trâu
Tơi nón trung du em về đâu
Nhớ ai trên đường đi Bố Hạ…
Rừng xa Yên Thế hùm thiêng nằm
Đồn cũ Phồn Xương rét cuối năm
Râu tóc tướng quân cờ nghĩa ruổi
Ngựa chiến băng đường dấu còn mới
Nép bóng vườn cam đường Bố Hạ
Mả Tây, tri huyện lập công làm
Bia ký quân thù trận Nhã Nam.
Lời bình:
Quang Dũng đã ghi lại hình ảnh của một người lính trong những ngày tháng kháng chiến, với những cảm xúc chân thực và mãnh liệt. Bài thơ thể hiện tình cảm gắn bó với đồng đội và nỗi nhớ quê hương, tạo nên một không gian đầy chất thơ và ý nghĩa nhân văn.
Đường trăng
Đường ấy dừa trăng như cổ tích
đường vào những truyện thuở ngày xanh
đường qua bến lội ngang người cát
biển thuỷ triều dâng mặn nước lành
Đường ấy đi về qua bóng núi
miếu đêm soi lạnh xuống sông dài
lay động màn sương trên khói sóng
thuyền khơi ai gõ mạn xa khơi
Đường ấy sao khuya đầm nước mắt
trong vời như ngọc, lá tre xanh
giếng làng còn ướt trăng trên đá
chim ngủ xôn xao độn lá cành
Là những đường đi qua ngõ trúc
mẹ gìà thao thức ngó qua phên
hành quân trong đám người đêm ấy
biết có con thương của mẹ hiền
Là những đường trăng qua bến láng
hoa nhài thơm ngõ đượm quân trang
lớp này lớp khác người sang hết
thuyền lại nằm phơi dưới nguyệt vàng
Là bước quân đi đường kháng chiến
lòng thôn trăng giải biết bao nhiêu
bao nhiêu giấc ngủ làng thôn động
gà chợt nhầm canh chợt gáy theo.
Lời bình:
Đường trăng thể hiện vẻ đẹp lãng mạn và huyền ảo của thiên nhiên. Qua những hình ảnh thơ mộng, Quang Dũng đã khắc họa sự giao thoa giữa con người và thiên nhiên, tạo ra một không gian nghệ thuật đầy chất thơ. Bài thơ không chỉ là sự miêu tả thiên nhiên mà còn là một cuộc hành trình tâm hồn.
Pha Đin
Như từng đợt sóng bủa lên trời
Hùng vĩ Pha Đin gì sánh được
Lắc đầu tài xế thấm mồ hôi
Bến dốc chon von ngàn thước vực
Lên thì “Cổng trời” xuống vực thẳm
Uốn quanh đá trắng lượn vòng thang
Ngựa thồ đỉnh dốc nhỏ như kiến
Đi trong đường mây rắc bụi vàng
Đẹp như sơn thuỷ tranh đời Tống
Ầm tiếng xe lu vách đá vọng
Mờ ảo công trường hiện dưới lau
Đôi hạt cầu đường lán lưu động
Còn bay than bếp dưới hoa đào
Hùng vĩ Pha Đin gì sánh được
Đường của dân công đi dưới đuốc
Giọng hò Nghệ Tĩnh nức lòng quân
Gạo, muối đêm ngày vây hãm giặc
Đâu đây đứt pháo xích kêu giòn
Liệt sĩ tên còn xanh núi non
Cơn gió bóng mây qua đỉnh Việt
Mà như lau sậy có linh hồn
Dừng xe trông mây nhìn phương Nam
Hà Nội mốc đường cây bốn trăm
Hợp tác Bình Thuận rải chân dốc
Gạo quê Tiền Hải đã thơm rừng
Hùng vĩ Pha Đin gì sánh được
Giang sơn gấm vóc một miền Tây
Mới thấy yêu sao là Đất Nước
Pha Đin ngàn chớp nổi hồ mây.
Lời bình:
Pha Đin là bài thơ thể hiện tình yêu quê hương, nơi tác giả khắc họa vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc. Hình ảnh Pha Đin hiện lên như một biểu tượng của sức mạnh và vẻ đẹp của thiên nhiên. Quang Dũng đã thành công trong việc tạo ra bức tranh thiên nhiên đầy sức sống, khiến người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của đất nước.
Tổng hợp các tác phẩm của Quang Dũng mới nhất
Sau khi chiến dịch Tây Tiến kết thúc, Quang Dũng trở về đảm nhận ví trí Trưởng tiểu ban tuyên huấn và Trưởng đoàn văn nghệ liên khu III. Ông tiếp tục sáng tác nhiều bài thơ, truyện ngắn và viết kịch. Cùng điểm những bài thơ của Quang Dũng trong giai đoạn này ngay sau đây:
Mười hai cô gái trồng cây
Chim chưa dậy, gà chưa gáy canh đầu Rá đã thơm mùi cơm mới rỡ Ăn trong lửa bếp nực than hồng Còn tưởng bữa ăn trong giấc ngủ
Uống hết mấy tuần nước vối đặc Nhìn ra rừng còn trong bóng đêm Một tiếng cu rúc buông vắng lặng Đi thôi lên vai nào cuốc chim!
Một tổ mười hai cô gái trẻ Áo khăn gọn gàng như xuất quân Chân đi tất xanh – ủng lâm nghiệp Chưa sáng đã lo ngày chóng hết
Một tiếng chim non cất cuối đồi Cùng lúc ve ngày cất tiếng hát Mười hai cô gái tổ trồng cây Tóc lộng bình minh hương núi mát Mười hai cô gái tổ trồng cây Đi cuốc đồi xa trồng gỗ lát.
Lời bình:
Bài thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên và lòng tự hào về đất nước. Qua hình ảnh những cô gái cần mẫn trồng cây, Quang Dũng đã truyền tải thông điệp về sự gìn giữ và phát triển môi trường. Tác phẩm không chỉ mang ý nghĩa xã hội mà còn thể hiện tâm hồn nhạy cảm và lạc quan của tác giả.
Bất Bạt đêm giao quân
Ba Vì tảng trán xanh Thức với mây Đoài trắng xoá Đất nước ông cha Sông Hồng nặng đỏ Đêm nay Đêm giao quân
Hãy nghỉ tay chèo và gấp lưới Bữa riêu thơm khói bếp nhà chải Ăn vội Trống tập trung Vang vọng bãi Lương Tuyền Mẹ tiễn qua sông Bến Mộc gặp trăng lên
Hãy tạm biệt những bếp hồng lửa sưởi Trao súng săn nỏ cứng gửi người già Không đợi kiêng ngày chim và tháng hổ Nước gọi ta rồi. Trai Mán đi xa
Hãy trao đường cày những cánh đồng cao sản Cho lớp em ngoan mười cô gái xã Tòng Tiếng chiêng trống mừng công và tiễn biệt Gợi thuở ra quân nào trên đất cũ Văn Lang
Rậm rịch đêm trăng Ngõ làng – Xóm bến Đỉnh núi – Triền sông Đường rơm làng quyến luyến bước thu đông Đêm nay Bất Bạt ra tiền tuyến Từ đỉnh Ba Vì, đất nước trông.
Lời bình:
Bất Bạt đêm giao quân khắc họa không khí căng thẳng của cuộc chiến tranh, đồng thời thể hiện tình cảm sâu sắc của người lính. Qua hình ảnh đêm giao quân, Quang Dũng đã tạo ra một không gian đầy cảm xúc, thể hiện sự mạnh mẽ và kiên cường của con người.
Rừng
Rừng ta thâm nghiêm Um tùm bóng cả Xanh Trường Sơn cây cổ đại nghìn năm Rừng miền Tây che gió Lào quạt lửa Đông Bắc rừng che kín mỏ hầm Vòm xanh mái nhà Đinh, lim dựng cột Bóng ông cha từ những tuổi đá vàng Một rừng già trong bão táp Hiên ngang che chở nắng mưa dân tộc Ngàn vạn dòng khe tung nước trắng Ngàn bản hùng ca reo chiến thắng Tiếng rừng đâu chỉ tiếng tiều phu Tiếng búa sơn tràng rơi vắng lặng Tiếng rừng không chỉ tiếng voi đi Răng rắc cành rơi Ào lá rụng Tiếng rừng không chỉ tiếng hươu vàng Tiếng hoẵng điềm mưa vách đá vang Cồng mở tổ tiên xưa đã nổi Trống đồng ốc lệnh đuổi xâm lăng Rừng Lam Sơn vào lịch sử đầy trang Buổi dựng Nước Cây ngàn dâng sóng biển Rừng Bắc Giang Ba mươi năm tử chiến Không chung thước đất với quân thù Hoa lau trắng bạc trời Yên Thế Danh Hoàng Hoa Thám rạng muôn thu Tiếng rừng đâu chỉ tiếng tiều phu Tiếng búa sơn tràng rơi vắng lặng
Sớm rừng một buổi Tiến quân ca Đất nước anh hùng cất cánh Đốm lửa chiến khu thành ánh sáng Đã nhen trong bóng những rừng già Mười năm giữ nước cây không mỏi Gai góc Dây leo Chằng chịt lối Bộ đội làm thơ yêu quí Rừng Rằng: “Tây có mắt mà như bưng”
Lính giặc ra hàng còn khiếp vía Quân ta xanh lá hiện ngang đường Rừng trên mũ súng vào quân địch Lá rừng thét gió đợt xung phong
Im rồi! Chiến dịch vừa ngơi súng Thắng trận anh về áo rách bươm Lá cũng tả tơi nhường mệt mỏi Càng thêm kiêu đẹp vẻ anh hùng
Nhớ mái rừng xanh Ngày tản cư Măng dang Nõn nứa Ngày đợi Đêm chờ Ơn rừng ta đặt tên con nhỏ Là những “Đèo Hoa” những “Suối Thơ” Bao công dân mới mười lăm tuổi Đã sinh cùng Nước một rừng xa
Kháng chiến thành công Người tạm biệt Với rừng. Cây lá đổ về xuôi Quân vào Hà Nội đường thơm hắc Trấn thủ còn mang vị núi đồi Lá nguỵ trang xanh đầu trọng pháo Hương rừng bỗng mát cả ngày vui
*
Ta ở rừng về Ta lại lên Lâm trường ta dựng giữa thiên nhiên Bừng trang sử mới Trang rừng mới Hoang vu nào hẹp lượng tài nguyên Từng cho hơi thở nghìn năm sống Từng biếc màu nuôi đất vững bền Từng có hôm nay, Rừng vẫn đó Tiếng rừng hay tiếng mẹ ru êm?
Ai nghe tiếng rừng Mà không xao xuyến Có cây vàng tâm Lìa rừng xuôi bến Ơi cây vàng tâm! Vàng tâm yêu quí Lìa rừng quê hương Tiếng cưa máy nổ Bụi gỗ bay vàng Tôi là bộ đội Tôi đi sơn tràng Xin rừng một cây Xin rừng một cây Đem lên máy kéo Kíp ngoài cửa rừng Đón về nhà cưa Gỗ thơm ta xẻ Đổi hàng Liên Xô
Rừng ơi! Rừng ơi Cây là no ấm Vàng thơm ngàn tấm Ta xin rừng về Ai nghe tiếng rừng Cây “sau sau” đổ Ai nghe tiếng rừng Mà không rộn ràng Này cây “sau sau” Này cây “dẻ hương” Này cây “dẻ cuông” Gốc mấy người ôm Ngọn khiếp cánh chim Tiếng đổ như sấm Run nép cầy muông Trâu chờ dô hụi Là trâu lên đường Trâu Đọi gắng sức Trâu Bỉnh chịu thương Trâu Sỉ chịu khó Nào ta băng rừng! Quanh co đường dốc Chín suối chặn ngang Trâu Đọi gắng sức Trâu Bỉnh chịu thương Trâu Sỉ chịu khó Nào ta lên đường! Mai nằm máy kéo Lao bè bến Trưng Gỗ sẽ ra rừng Xuôi về cửa biển Xuôi qua làng bến Những bầy em thơ Lội chơi bờ biếc Em ơi có biết Ta phải xa rừng Bềnh bồng sóng cả Vì các em không? Ai nghe tiếng rừng Mà không bâng khuâng
Đây giọng Trị Thiên, Quảng Ngãi Em ru Đồng Tháp bưng biền Anh tự miền Nam tập kết Về đây ngả gỗ trồng rừng Những ngày phát lau dọn cỏ Beo về quanh lán gầm vang Mưa Lào mái nghiêng nước dột Gian nan thử lửa xem vàng Bữa cơm thường không chắc dạ Lán gianh mấy chòm trong sương Khe Chè muỗi độc rung cơn sốt Rào Mắc đường đi con lũ hung Rào Qua thú ác rình theo bước Nhìn ngược nhìn xuôi núi điệp trùng
Anh nghe tiếng rừng Hôm nay máy điện Đêm đêm nổ giòn Đèn như hoa núi Lâm trường Hương Sơn Anh nghe tiếng rừng Sớm nay máy kéo Dọn nhà đi đâu? – “Ta đi trạm mới Thay dần sức trâu Nay ở Ngàn Phố Mai qua Khe Rào” Có chiếc giường xinh Đem theo cần trục Máy kéo dọn nhà Dận ga đường dốc
Độ nghỉ dừng trưa vo gạo suối Ba lạng cơm vàng thịt nướng khô Trưa rồi lau lách chim ru mộng Báo rọc lưng vời trong tiếng thơ Dầu máy hăng pha mùi cỏ dại Nhớ trăng Hoàn Kiếm tưởng em chờ Ngày rừng mây lướt nhanh khe thẳm Chiều núi đường còn gấp trạm xa Thư trên tay lái khoan rồi viết Máy kéo lên đường tiếng rú ga Tiếng rừng đâu chỉ tiếng voi đi Răng rắc cành khô Ào lá rụng Tiếng rừng đâu phải tiếng hươu vàng Tiếng hoẵng điềm mưa vách đá vang Tiếng rừng đâu phải tiếng tiều phu Nhát búa sơn tràng rơi vắng lặng
Giã từ đồng đất tuyết Liên Xô Anh bạn đi làm cây nhiệt đới Gió Lào anh lại nhớ rừng Nga Rồi buổi mưa ngàn dâng lũ suối! Nhà anh, ta lát gỗ vàng tâm Cửa đẹp vui người tay thợ giỏi Bóng rừng len lỏi bước chuyên gia
Ai nghe tiếng rừng Mà không bồi hồi Mà chẳng bồi hồi Gió nhẹ lướt vườn ươm giống quí Đinh, lim, sến, táu tuổi đầy tôi Chò chỉ, chò nâu cao sánh núi Hôm nay cây chửa đến vai người Ta xin – ta trả – ta ươm hạt
Ta giữ rừng thiêng của giống nòi Em gái đời sau tìm gỗ quí Buông cưa nguyên tử mắt xa vời: – “Những cây cổ thụ này Cha, chú đã trồng thế kỷ thứ hai mươi”.
Em ơi! Công nhân đời mai sau Em nghe rừng nổi gió thì thào Có tiếng đời nay trong tiếng ấy Qua rừng cây trẻ nắng lao xao
Ai nghe tiếng rừng Lòng không dạt dào? Ai nghe tiếng rừng…
Lời bình:
Trong Rừng, Quang Dũng đã thể hiện tình yêu thiên nhiên và tâm hồn nhạy cảm của mình. Bài thơ tạo ra hình ảnh sống động về rừng núi, gợi lên vẻ đẹp hùng vĩ và tráng lệ của thiên nhiên. Qua đó, tác giả đã thể hiện sự gắn bó giữa con người và môi trường sống.

Đường 12
Đường Mười hai Đường Mười hai anh dũng Đường dài hun hút đá răm Mình mang đầy vết đạn bom Nhưng quân thù khiếp sợ Không một chiếc cầu chưa gục Không một quán lều chưa bắn Nhưng bên trong những hố bom Thành giếng nước rửa chân trong vắt Chuối, đu đủ lại trồng quanh Quán hàng lại thay mái mới Mùi tren lá thơm xanh.
Đường Mười hai ban ngày Im mà dữ tợn Nắng rãi trên đá nhọn Đâm chân người
Chỉ có trên trời Mặt trời và phi cơ giặc Đường Mười hai ban ngày Hoạ hoằn có bóng người đi vội Mình che đầy lá nguỵ trang Những hố tăng sẽ đùn đất đỏ tươi Như hốc mắt nhìn lên trời thẳm.
Nhưng mặt trời vừa chìm Sau những rặng núi đầu Của Trường Sơn vươn sẫm Đường Mười hai trắng trong hoàng hôn Bỗng đen đặc người Những nhịp chân đi rầm rập Cùng với gió đêm bắt đầu thổi mát Đèn hoa kỳ sáng lên Tưng bừng trảy hội Đường Mười hai trở dậy Sau giấc ngủ ban ngày.
Từ những xóm lẻ Ẩn trong lùm tre Từ những lối mòn qua ruộng Nghìn chiếc xe mui khum Bắt đầu chuyển bánh Đổ ra đường Mười hai Vó ngựa nhịp nhàng Những chiếc xe mui khum Lộc cộc từng hàng Hướng về miền Tây, Việt Bắc Những chú ngựa bờm dài Hất đầu lắc nhạc Hí lên từng hồi Phất đuôi mừng khởi hành Đường ngựa sặc mồ hôi Bóng roi vung lên vòm sao xanh Những anh chàng cầm cương Buộc chiếc đèn chai Dưới gầm xe lúc lắc Ngồi tán chuyện tiếu lâm.
Như chiếc xe thồ có tay ngai Dáng điệu rất là kiêu hãnh Đã đi mấy trăm cây dài Từ Nghệ An Hà Tĩnh Nghỉ lại Nho Quan Hút điếu thuốc sợi vàng Nhìn lên sao Bắc Đẩu Đêm nào vượt sông Đà?… Đêm nào qua sông Hồng?… Những chặng đường đi ngay mũi giặc Để đem hàng lên Cho liên khu Việt Bắc. Những chiếc xe thồ Là mạch máu lưu thông Những ngày ta đánh giặc. Ở những hang núi Ven đường Mười hai Vệt đèn pha xuyên qua lá rừng Từng đoàn môlôtôba chuyển bánh Người đi đường phải tránh Say mùi ét xăng Thấy trên đường chiến dịch Chúng ta đi băng băng Những hồi còi giục vội Như lời một bài ca phấn khởi.
Có những đêm gió bão Giông rừng đổ mưa ngàn Trên đường Mười hai Không ngớt bóng người đi Những đoàn dân công Áo sặc mồ hôi gió mặn Bước chân qua Bờ cát biển xanh Trung bộ Bước chân qua Đồi ngang Những gót chân sỏi bùn lỗ chỗ Mang gạo lên chiến trường Những đoàn người đi mười tháng dân công Đêm đêm lại trên đường Mười hai Bóng dài theo bóng đèn chai lúc lắc Có những đêm trăng sáng Vách núi vang lên Giọng hò Nghệ Tĩnh miền Thanh Những đoàn dân công Dừng lại châu Trang Đón bát nước tươi vàng Bàn tay áo chàm Chị em miền núi.
Đường Mười hai đêm đêm hành quân Bóng bộ đội chính quy Bước vào chiến dịch Lù lù pháo nặng Đường Mười hai đêm đêm hành quân Em nhỏ bên đường thức giấc Nghe tiếng hò tiếng hát Tiếng giày vải, tiếng cười Có những đêm nghé liếp Thấy lũ lượt tù binh Râu xồm xoàm kéo lệt sệt giày đinh Anh bộ đội của ta Súng máy trong tay cầm chắc Đường Mười hai ban đêm vùng dậy Cứ đêm này qua đêm khác Những đoàn xe ngựa mui khum Nối nhau đi trường kỳ kháng chiến Cứ đêm này tiếp đêm kia Từng lớp dân công đèn dầu le lói Trong đêm hò hát gọi nhau… Hết đêm này đến đêm sau Những người lái xe thồ Mồ hôi thấm bụi đường đá bột Cuộc sống chúng ta Lao về phía tiền phương Lúc mặt trời vừa tắt Nhanh như đoàn xe đêm đêm Gầm lên không biết mệt. Đường Mười hai Đường Mười hai anh dũng Đường dài hun hút đá răm Mình đang đầy vết đạn bom Nhưng quân thù khiếp sợ Đêm đêm đường Mười hai vùng dậy Sau một ngày nghỉ ngơi Dồn dập chân đi cuồn cuộn sóng người Chiến đấu Giặc điên dại Không một bóng cầu Không một quán lều chưa phá Napan, bom bướm, bom dây Nhưng bên những hố bom Thành giếng nước Chuối, đu đủ lại trồng quanh Quán lều lại thay lá mới Mùi lạt thơm xanh.
Lời bình:
Đường 12 là bài thơ mang đậm âm hưởng của thời kỳ kháng chiến, thể hiện sự khắc nghiệt của cuộc sống chiến tranh. Quang Dũng đã khắc họa hình ảnh con đường đầy khó khăn và gian khổ, nhưng cũng không kém phần lãng mạn và huyền bí. Tác phẩm là một bản hùng ca về sức mạnh và tinh thần kiên cường của con người.
Tiết xôi mới trên đường khai hoang
Đường thôn rạ vàng Ngậy mùi cơm mới Tháng mười quê ta Gạo mùa chim ngói Quê vui lúa màu
Ao trong trời xanh Bay lá tre khô Rơi chùm sung chín Nhớ ai mong chờ
Anh đi khai hoang Thêm tên những làng Thêm đồng lúa mới Mai thành quê hương
Tháng mười hành quân Đưa theo xóm làng Đường thôn rạ vàng Gạo đồ chim ngói Đi làm quê hương.
Lời bình:
Bài thơ thể hiện niềm vui và hy vọng của con người trong công cuộc xây dựng quê hương. Hình ảnh những người nông dân cặm cụi lao động tạo ra một không gian đầy sức sống, thể hiện tình yêu và niềm tự hào về quê hương.
Cố quận
Trăng sáng vẫn vờn đôi bóng cau
Ngồi đây mà gửi nhớ phương nào
Gió mát lung linh vầng Bắc Đẩu
Tiếng hè ếch nhái rộn bờ ao.
Ngồi đây năm năm miền ly hương
Quê người đôi gót mải tha phương
Có những chiều chiều trăng đỉnh núi
Nhà ai chày gạo giã đêm sương
Tịch mịch sầu vơi bèo râm ran
Côn trùng im ỉm lối trăng tàn
Người ơi quê cũ đèn hoe ngọn
Tóc bạc trông chừng cảnh héo hon
Ngõ trúc quanh quanh sầu bóng lá
Trăng vàng rơi rắc nẻo nào xưa
Ngõ cũ không mong người trở lại
Mà mùi hoa mộc vẫn thơm đưa
Đốt khói lên rồi hương viễn vông
Dòng xanh thoáng biến cảnh hư không
U hiển liễu trai về quá khứ
Chuối vườn rũ lá đóm bay vòng
Em ơi, em ơi đêm dần vơi
Trông về phương ấy ngóng trông người
Trăng có soi qua vầng tóc bạc
Nẻo về cố quận nhớ thương ôi!
Lời bình:
Quang Dũng đã miêu tả vẻ đẹp của quê hương qua những hình ảnh cụ thể và gần gũi. Bài thơ thể hiện sự gắn bó sâu sắc với mảnh đất nơi mình lớn lên, tạo ra không khí ấm áp và thân thuộc trong lòng người đọc.
Hồ Nam
Ai biết Hồ Nam giờ ra sao?
Xa cách hồn quê động bóng cau
Ðám cưới qua đò quai nón mới
Mười năm còn tưởng bóng cô dâu
Ai biết Hồ Nam giờ đổi thay
Bãi sỏi gầm quanh nước réo ngày
Em nhỏ tắm trâu chiều núi biếc
Giờ em chiến sĩ ở đâu đây
Ai nhớ Hồ Nam mây trắng xa
Giây nói tham mưu giăng mọi nhà
Tư lệnh cùng dân ăn cỗ giỗ
Ði rồi còn nhắc mãi quân ta
“Một hàng cau phơ phất
Một hàng mây xa xôi
Trong mưa chiều hiu hắt
Buồn lắm Hồ Nam ơi!”
Vàng cũ thời gian trang nhật ký
Bâng khuâng y tá mắt trông người
Chưa vào chiến dịch – quân y vắng
Quê nhà Hà Nội dạ như khơi.
Lời bình:
Hồ Nam là bài thơ thể hiện tình yêu và nỗi nhớ quê hương, nơi tác giả đã khắc họa vẻ đẹp của thiên nhiên và con người. Hình ảnh hồ nước xanh mát cùng những kỷ niệm đẹp đã tạo nên một không gian thơ đầy cảm xúc, gợi nhớ về những ngày tháng êm đềm.
Một phút thoáng qua
Chưa gặp sao đành thương nhớ nhau?
Đôi phen số mệnh cũng cơ cầu
Người đi mang nửa hồn đơn lẻ
Tôi về hoài vọng một đôi câu
Khói thuốc chiều sông hỡi dáng người!
Phương nào đôi mắt ngó xa xôi
Nào ai biết được niềm u ẩn
Từng lắng nhiều trong những mảnh đời
Tôi viết chiều nay chiều tưởng vọng
Làm thơ mình lại tặng riêng mình
Sông trôi luống gợi dòng vô hạn
Biền biệt ngày xanh xa ngày xanh
Thời đại bao lần khô nước mắt
Hoa đèn riêng gửi chút tâm tư
Ngắn dài đã học người thiên cổ
Vạn đại sầu lên chẳng bến bờ
Chiều ấy em về thương nhớ ai?
Tôi chắc đường đi đã rất dài
Tim tím chiều hôm lên bóng núi
Dọc đường mờ những cánh hoa phai
Một chút linh hồn nhỏ
Đi về chân núi xanh
Màu tím chiều chầm chậm
Hoàng hôn nghe một mình
Giáo đường chuông rời rạc
Tan vỡ nhiều âm thanh
Một chút linh hồn nhỏ
Đi về chân núi xanh.
Lời bình:
Một phút thoáng qua thể hiện những suy tư về cuộc sống và cái đẹp. Quang Dũng đã sử dụng ngôn ngữ tinh tế để tạo nên những hình ảnh sống động, thể hiện những cảm xúc mãnh liệt và sâu sắc trong từng khoảnh khắc.
Thơ tặng ông Lang
Gian khổ đường ta ta cứ đi
Vững tâm theo kháng chiến trường kỳ
Trắng trong nguyền giữ lòng cam thảo
Son sắt càng thơm dạ quế chi
Non nước đã vương tơ đỗ trọng
Giàu sang đâu hám chữ đương qui
Lênh đênh dầu mấy lênh đênh nữa
Tin tưởng ngày mai rộng lối đi.
Lời bình:
Thơ tặng ông Lang là tác phẩm tiêu biểu thể hiện tình cảm sâu sắc và sự trân trọng của nhà thơ Quang Dũng đối với ông Lang – một người thầy thuốc và cũng là biểu tượng của trí thức trong bối cảnh xã hội những năm kháng chiến. Bài thơ không chỉ đơn thuần là một lời chúc mừng hay cảm ơn, mà còn mang trong mình những suy tư, cảm nhận và triết lý sống sâu sắc về con người và cuộc đời.
Lời kết
Tuyển tập thơ Quang Dũng hay nhất mọi thời đại sẽ giúp bạn có thêm hiểu biết về ông. Phong cách sáng tác của Quang Dũng phóng khoáng và lãng mạn. Ngoài Tây Tiến, ông còn được biết đến như tác giả của nhiều bài thơ nổi tiếng khác.