1. Hiểu đúng về văn hóa và sự sở hữu văn hóa
Theo UNESCO, văn hóa là “tập hợp các đặc trưng tiêu biểu về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội.” Tính cộng đồng là một đặc trưng của văn hóa, và vì văn hóa gắn với cộng đồng nên cũng có sự phân biệt giữa người bên trong (insider) và người bên ngoài (outsider) của cộng đồng đó.
Theo TS. Lư Thị Thanh Lê, sẽ là trái pháp luật nếu ai đó đến từ bên ngoài lấy những vật phẩm, đồ dùng, vật thể văn hóa thuộc về quyền sở hữu của một người hay một nhóm người trong cộng đồng.
Với các tài sản văn hóa vô hình, việc quan sát sự sở hữu, vay mượn, chiếm dụng có phần phức tạp hơn. Tuy nhiên, các tài sản văn hóa không thuộc về một nền văn hóa một cách chung chung mà thuộc về những cá nhân, nhóm người cụ thể, dựa trên các quy định của pháp luật như luật sở hữu trí tuệ.

Nếu một tài sản văn hóa được pháp luật bảo hộ quyền sở hữu, thì tài sản đó thuộc về cá nhân hay tập thể cụ thể. Nếu không được pháp luật bảo hộ thì tài sản ấy có thể được xem là thuộc về công cộng, sở hữu chung, thuộc về nhân loại nói chung.
Tuy nhiên, sự ghi nhận pháp lý chỉ dành cho những thứ xác định được rõ ràng. Trong khi ấy, văn hóa luôn thay đổi, vận động theo thời gian, và có sự biến đổi không ngừng.
Thêm nữa, không phải thành tố văn hóa nào cũng có thể quy ra tài sản để được bảo hộ quyền sở hữu, khai thác. Có những nét văn hóa được xem là đặc trưng của một cộng đồng nhưng không được xem là tài sản và cũng không được thực hiện bảo hộ về quyền sở hữu.