Văn học là một hình thái ý thức xã hội, bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ một quan điểm , một cách nhìn đối với đời sống. Nhưng văn học nói riêng và văn nghệ nói chung không giống với các hình thái ý thức xã hội khác
Đặc thù của văn học với tư cách là một hình thái ý thức thẩm mĩ tồn tại không gì thay thế được trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại là vì văn học có đối tượng phản ánh , nội dung và phương thức thể hiện riêng mà các hình thái ý thức xã hội khác không có đựơc.
A- Về đối tượng:
_ Mĩ học duy vật khẳng định đối tượng của văn học là toàn bộ thế giới khách quan. Thế giới khách quan ấy được văn học chiếm lĩnh, nhìn nhận ở góc độ khác các ngành khoa học. Văn học chú ý đến các “ kinh nghiệm quan hệ” ( I. Bôrep). “ Kinh nghiệm quan hệ” mang ý nghĩa là quan hệ người kết tinh trong các sự vật và hiện tượng của thế giới hiện thực được miêu tả. Do đó con người trở thành trung tâm của mọi quan hệ đời sống trong miêu tả.
_ Lấy con người làm đối tượng miêu tả chủ yếu, văn học có một điểm tựa để nhìn ra thế giới:
+ Trong tác phẩm văn học, dù miêu tả thế giới khách quan hay thế giới chủ quan thì thế giới ấy cũng đều được nhìn nhận thông qua một con người, tức một nhân vật cụ thể ( Nhân vật trữ tình trong thơ, nhân vật , nhân vật người kể chuyện trong truyện). Không có một TP nào vắng bóng nhân vật. Con người trong văn học là trung tâm giá trị , trung tâm đánh giá và trung tâm kết tinh quan hệ.
VD: Hình ảnh trăng trong TPVH không phải được xem xét như một thiên thể vật chất tự nhiên , một hành tinh của trái đất trong thiên văn học mà nó chỉ có thể là “ Trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ” ( Nam Cao), hoặc là người làm chứng cho lời thề bồi của đôi lứa “ Vầng trăng vằng vặc giữa trời/ Đinh ninh hai miệng một lời song song” ( Truyện Kiều), hoặc là người bạn tri âm tri kỉ của người tù cộng sản mất tự do thân thể nhưng hoàn toàn tự do trong tư tưởng , tâm hồn “ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”, là người bạn hữu tình của các bậc thi nhân, mặc khách “ Song thưa để mặc bóng trăng vào” ( NK) , “ Trăng vào cửa sổ đòi thơ” (HCM) , hay như một thiếu nữ đa tình “ Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu / Đợi gió đông về để lả lơi” ( Hàn Mặc Tử)
+ Nếu mỗi con người , mỗi nhân vật là một trung tâm quan hệ ( Trong tính hiện thực của nó con người là tổng hòa các quan hệ xã hội – C. Mác) , trung tâm đánh giá thì khả năng tiếp cận thế giới là vô hạn.
_ Rất nhiều ngành khoa học lấy con người làm đối tượng nghiên cứu nhưng con người với tư cách là đối tượng của văn học hoàn toàn khác con người là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học:
+ Văn học là nhân học nhưng con người trong TPVH được tái hiện trong tính toàn vẹn, cảm tính, sinh động từ những chi tiết ngoại hình, đến hành vi , ngôn ngữ, nội tâm,…
+ Con người trong VH được tái hiện trong những quan hệ xã hội chằng chịt, phong phú và phức hợp , bộc lộ qua những tính cách cụ thể trong những hoàn cảnh , môi trường cụ thể, trong những cuộc đời và số phận riêng biệt, cá lẻ. Trong đó, VH chủ yếu đi sâu vào phương diện tâm lí, tình cảm , tư tưởng.
+ Con người trong VH không được nhìn nhận như một thực thể khách quan tuyệt đối như trong các ngành khoa học mà được tái hiện dưới một quan niệm về đời sống, một lí tưởng , một tình cảm thẩm mĩ , một quy luật thẩm mĩ nhất định, một cảm hứng mãnh liệt của nhà văn
B- Về nội dung:
Nội dung của VH không đồng nhất với đối tượng của VH. Nội dung là đối tượng được ý thức, được tái hiện có chọn lọc, khái quát , đánh giá phù hợp với một tư tưởng về đời sống , một lí tưởng niềm tin nhất định đối với cuộc đời. Đối tượng của văn học tồn tại trong cuộc sống còn nội dung của văn học thì tồn tại trong tác phẩm. Nội dung văn học tương đồng với đối tượng của nó nhưng với một chất lượng khác
Nội dung của VH là sự giao thoa , xuyên thấm giữa cái khách quan và cái chủ quan, là hiện thực đời sống được ý thức về mặt tư tưởng và giá trị, gắn liền với một quan niệm về chân lí đời sống, với một thiên hướng thẩm mĩ và thiên hướng đánh giá. Không có chất liệu đời sống thì cũng không có gì để làm nên nội dung, nên thực chất của TPVH nhưng sự việc đời sống mà không âm vang vào tâm hồn, không lay động sâu xa nghệ sĩ, không thành “ Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi” thì cũng không biến thành hình tượng văn học được. Huy Cận đã so sánh hai trạng thái mưa trước và sau CMTT: “ Giọt mưa cũ ố vàng thơ phú
Triều mưa nay phơi phới lúa xanh”. Hay như cách nhìn của nhà thơ đối với các pho tượng La Hán chùa Tây Phương trước CM:
“ Hoàng hôn thế kỉ phủ bao la
Sờ soạng cha ông tìm lối ra
Có phải thế mà trên mặt tượng
Nửa như khói ám nửa sương tà”
và sau CM, nói rõ hơn là trong thời điểm Miền Bắc tuyên bố đi lên xây dựng CNXH:
Các vị La Hán chùa Tây Phương!
Hôm nay xã hội đã lên đường
Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại
Xua bóng hoàng hôn , tản khói sương
Nội dung của VH, vì thế,bao giờ cũng phong phú và đa nghĩa. Nhận thức nội dung của văn học, ý thức được những ưu thế riêng của văn học, cho phép nó có thể đáp ứng những nhu cầu xã hội phổ biến mà các hình thái ý thức xã hội khác không đáp ứng được.
C- Về phương thức:
Văn học nghệ thuật phản ánh cuộc sống bằng hình tượng trong khi các hình thái ý thức XH khác phản ánh cuộc sống bằng các khái niệm , phạm trù có tính chất chính xác , khái quát , trừu tượng.
Khái niệm hình tượng: 1* GS Trần Đình Sử cho rằng: Hình tượng là những khách thể thẩm mĩ được tái hiện một cách sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật ( tất cả những gì của đời sống đều trở thành đối tượng của văn học, tái hiện một cách sáng tạo)
2* Timôphêep quan niệm: Hình tượng là bức tranh về đời sống vừa cụ thể cảm tính vừa khái quát và mang ý nghĩa thẩm mĩ
Phân tích quan niêm của Timôphêep:
a_ Hình tượng văn học vừa cụ thể cảm tính vừa khái quát:
+ Cụ thể: tồn tại trong không gian, thời gian, có đường nét , ánh sáng , âm thanh, hương vị,…Tùy theo ý đồ nghệ thuật cá tính và tài năng nhà văn có thể xoáy sâu vào một phương diện nào đó
+ Cảm tính là nói đến cảm nhận mang nét rất riêng của nhà văn, nó là kết quả của quá trình sáng tạo mang đậm dấu ấn phong cách:
VD: Chân dung chị Dậu: đôi mắt sắc ngọt, môi đỏ tươi, nước da đen giòn rất đặc trưng cho người phụ nữ Kinh Bắc gắn liền với quan niệm về cái đẹp toàn diện của nhà nho Ngô Tất Tố)
+ Sức khái quát của hình tượng VH vô cùng lớn, có khả năng nói được rất nhiều nội dung đời sống. Những hình tượng đích thực được ví như tảng băng trôi, như củ hành nhiều lớp vỏ, là những hình tượng không đáy về ý nghĩa
VD: Quê hương là chùm khế ngọt: dùng hình ảnh cụ thể, rất nhỏ để nói một khái niệm rất chung , rất lớn , quen thuộc
VD: Quả ớt cay thì màu ớt đỏ/ Ai dễ tin người ấy bị lừa è nói về quả ớt
è nói về cọn người
è nói về xã hội
è lấy cái rất nhỏ để nói về những vấn đề rất lớn như trong bài thơ Tấm ảnh của Tố Hữu: Người đàn ông / một thiếu nữ è dân tộc VN nhỏ bé/ Mĩ là một cường quốc về kinh tế , quân sự nhưng chưa chắc thắng , người thắng là dân tộc VN.
Chí Phèo vừa có ý nghĩ là một lớp , một bộ phận nhỏ nông dân bị tha hóa nhưng đồng thời còn là khát vọng làm người , khát vọng hoàn lương – một khát vọng mang tính nhân bản
Văn học có thể nói về cái này nhưng không bao giờ chỉ dừng lại ở đó tức là không bị giới hạn , ràng buộc ở đề tài. Văn học mang ý nghĩa sâu rộng ( chiều sâu + bề rộng)
* Bề rộng:: Tác phẩm văn học có thể tái hiện một không gian rộng lớn không giới hạn trong đó diễn ra rất nhiều sự kiện, với một số lượng nhân vật cực kì lớn ( Tam quốc chí, Chiến tranh và hòa bình, Sông Đông êm đềm, Trăm năm cô đơn,…)
* Chiều sâu: Đời sống được kết tinh sâu sắc nhất trong nhân vật với đầy đủ số phận , tính cách; đời sống nội tâm , suy nghĩa , tâm hồn
2_ Hình tượng văn học có thế mạnh vì nó mang giá trị thẩm mĩ tức là nó có vẻ đẹp , sức hấp dẫn. Bản thân hình tượng văn học phải làm người đọc rung động từ đó kích thích họ tìm hiểu. Cái đẹp cuả hình tượng có được nhờ sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và hình thức
VD Bài ca dao: Trên trời mây trắng như bông / Chính giữa cánh đồng bông trắng như mây /
Ba cô má đỏ hây hây / Đội bông như thể đội mây về làng
Có vẻ đẹp hài hòa giữa bầu trời , mặt đất và vẻ trẻ trung xinh đẹp của con người. Hài hòa về màu sắc, sự vận động êm nhẹ, mềm mại
3- Theo giáo trình hình tượng có các đặc trưng sau:
a- Là một khách thể tinh thần đặc thù:
+ QUYỂN SÁCH -à hình tượng tác phẩm
( vật chất) tinh thần à bản thân hình tượng là tinh thần
+ Khách thể: Bản thân hình tượng khi chia tay với nhà văn nó có đời sống riêng của nó, Người đọc có thể hiểu nó theo nhiều cách khác nhau, không phụ thuộc vào nhà văn
+ Đặc thù: HTVH có những đặc trưng riêng: tính chất đa nghĩa ( có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy theo đối tượng tiếp nhận)
b- Hình tượng mang đậm tính tạo hình và tính kí hiệu:
+ Tạo hình: Nói đến hình tượng ta phải có một sự hình dung về không gian , thời gian, con người , sự vật… thông qua văn bản ngôn từ. Tạo hình có nghĩa là tạo được những hình hài cụ thể, có sự vận động trong không gian , thời gian, có màu sắc , đường nét , âm thanh, ánh sáng , hương vị… VD: Đoạn đầu bài thơ VỘI VÀNG
Đặc biệt là nó có khả năng dựng lại những con người có ngoại hình, nội tâm , ngôn ngữ, hành động. Văn học sử dụng hệ thống từ ngữ giàu hình ảnh, sử dụng nhiều biện pháp tu từ ( so sánh , ẩn dụ , hoán dụ, tượng trưng,..) nên có khả năng khắc họa một cách cụ thể đối tượng.
VD: Từ láy làm sự vật nhòe đi một chút nhưng tạo được sự chính xác của tư thế , tình thái
+ Tính kí hiệu: Một mặt hình tượng được xây dựng bằng kí hiệu ngôn ngữ và đến lượt nó lại là một kí hiệu
· Kí hiệu ngôn ngữ là một kí hiệu đa nghĩa. Hình tượng là tập hợp những kí hiệu ngôn ngữ nên tính đa nghĩa của hình tượng tăng lên rất rõ rệt
· So với các kí hiệu thông thường trong đời sống thì hình tượng văn học là một kí hiệu thẩm mĩ. Vì thế nó luôn đòi hỏi phải đổi mới, luôn được sáng tạo lại. Đây là một đặc điểm rất quan trọng. ( Hình tượng đời sống: có tính ổn định : đèn giao thông; quân phục; hình tượng văn học bắt buộc phải luôn luôn đổi mới)
VD: – Về biểu tượng tình yêu:
– Thuyền – bến ( ca dao)
– Thuyền – Biển ( Xuân Quỳnh)
– Biển – Bờ ( Xuân Diệu)
– Mây – Sóng ( Xuân Mai)
– Biểu tượng dân tộc Việt Nam anh hùng trong chiến đấu nhưng rất yêu hòa bình , cái đẹp: Lưng đeo gươm tay mền mại bút hoa ( Huy Cận)
Bài thơ trên báng súng ( Ta lại viết bài thơ trên báng súng/ Con lớn lên viết tiếp thay cha/ Người hôm nay viết tiếp người hôm qua / Người đứng dậy viết tiếp người ngã xuống)
Đầu súng trăng treo ( Chính Hữu)
– Biểu tượng hạnh phúc:
o Cành táo đầu hè lung linh quả ngọt ( Tố Hữu)
o Ga mới hồng đôi má / cầu mới thơm mùi sơn ( Xuân Diệu )
o Trái cây rơi vào áo người ngắm quả/ Đường nhân loại đi qua bóng lá xanh rờn ( Chế Lan Viên)
è Văn học không chấp nhận sự lặp lại , phải luôn luôn đổi mới
c- Tính nghệ thuật;
_ Hình tượng bao giờ cũng mang tính nghệ thuật. Nhà văn phải lựa chọn, sắp xếp sao cho hình tượng hình tượng đó mang giá trị nghệ thuật độc đáo, cuối cùng đạt đến sự hài hòa giữa nội dung và hình thức
D- Chức năng của văn học:
Văn học là một loại hình nghệ thuật đa chức năng
1- Chức năng nhận thức:VH mang đến cho người đọc sự hiểu biết về cuộc sống và con người. Đặc biệt là cung cấp cho người đọc những hiểu biết sâu sắc về con người. Mặt khác, văn học không chỉ đem lại nhận thức cho người tiếp nhận mà còn giúp người sáng tác nâng cao nhận thức đối với cuộc sống và con người. Văn học không chỉ giúp con người hiểu biết quá khứ, về hiện tại và còn dự báo tương lai. Tác phẩm văn học thực sự là cuốn bách khoa toàn thư về đời sống
2- Chức năng giáo dục:Văn học giúp con người trong sáng , cao thượng hơn. Tác phẩm văn học có khả năng đề xuất các chuẩn mực về đạo đức ( đwocj đánh giá bằng các phạm trù tốt / không tốt). Văn học giáo dục thông qua các điển hình văn học. Chính vì thế mà nội dung giáo dục mang tính sinh động vì điển hình là những con ngườicó hành động , tâm lí cụ thể…. Con đường thực hiện chức năng giáo dục của văn học là con đường thấm dần. Có thể coi văn học là đạo đức nhưng là đạo đức sinh động của đời sống
Giáo dục đạo đức bằng văn học phải thông qua cái đẹp. Do vậy để thực hiện tốt chức năng giáo dục, văn học phải tạo ra được những hình mẫu lí tưởng mà ở đó chứa đựng những quan niệm đạo đức tiến bộ và từ đó trở thành những điển hình có sức cổ vũ người đọc làm theo
VD: Lục Vân Tiên: mẫu hình lí tưởng của người trai thời phong kiến nhưng đồng thời thấm nhuần đạo đức nhân dân
Paven Corsaghin là hình mẫu của con người thời kì xây dựng CNXH ở Liên Xô
3- Chức năng thẩm mĩ:Để thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người , nhiều lĩnh vực đời sống cũng có khả năng đáp ứng , trong đó có cả những lĩnh vực sản xuất không thuộc lĩnh vực tinh thần. Tuy nhiên trong các lĩnh vực ấy yêu cầu thẩm mĩ phải đứng thứ hai sau yêu cầu tiện ích. Với tác phẩm nghệ thuật , giá trị thẩm mĩ là yêu cầu thứ nhất, nếu không có nó thì những chức năng khác đều không thể có tác dụng.
Để đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ của con người văn học phải đi theo hai hướng .
– Thứ nhất, Văn học tập trung miêu tả những cái đẹp vốn có trong đời sống. Do vậy đối tượng miêu tả của nghệ thuật trước hết phải là cái đẹp
Đối tượng của thơ thường là những cái đẹp : Cảnh đẹp , người đẹp , nỗi buồn… trong thơ lãng mạn. Văn học cách mạng nói đến cái mới , tương lai. Văn học hiện thực phê phán tập trung mổ xẻ cái xấu nhằm phủ nhận nó, gián tiếp khẳng định cái đẹp, hướng tới cái đẹp.
Có thể nói văn học hướng đến cái đẹp của đời sống để thỏa mãn cái đẹp cho con người
– Thứ hai:Văn học giàu khả năng tạo ra một cái nhìn mới trước những đối tượng hết sức quen thuộc , bình thường. từ đó làm cho đối tượng mới hơn, đẹp hơn . Đây là đối tượng đúng với bản chất của văn học
4- Chức năng giao tiếp: Nhìn rộng ra giao tiếp chính là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của đời sống. Tuy nhiên con người có nhiều hình thức giao tiếp mà văn học là một hình thức giao tiếp đặc biệt. tính chất đặc biệt đó được bộc lộ:
+ Giao tiếp bằng VH chủ yếu xuất phát từ nhu cầu tình cảm , tư tưởng . Khi nhà văn phải có một cảm hứng mạnh mẽ về nỗi đau, nỗi ám ảnh, trăn trở nào đấy mới có thể sáng tác. “Khi tôi viết là khi tôi thấy đau ở đâu đó”( Pasputin); “nhà văn là người cho máu”. “ Tôi viết theo mệnh lệnh của trái tim tôi nhưng trái tim tôi thuộc về Đảng” ( Sôlôkhôp)
+ Về phía người đọc: Khi ta tìm đến một TP nào đấy ta thấy xúc động , yêu thích mang tính tự giác xuất phát tự nhu cầu bên trong
+ Nội dung giao tiếp của văn học chủ yếu là bằng nội dung tư tưởng , tình cảm. Vì vậy nhu cầu được chia sẻ , được tri âm là nhu cầu rất lớn trong văn học. Do đó giao tiếp bằng văn học thường không giới hạn bởi không gian ,thời gian.
+ Giao tiếp bằng văn học là sự giao tiếp cực kì lí thú nhưng cũng hết sức phức tạp vì nó dễ dẫn đến sự hiểu lầm
d- Chức năng giải trí: Văn học là hình thức giải trí hữu ích bởi nó có khả năng làm cho con người có được những phút giây thư giãn sau một thời gian làm việc mệt nhọc. Việc giải trí bằng văn học cố nhiên đòi hỏi người đọc một trình độ nhận thức thẩm mĩ nhất định.Chọn TP phù hợp người đọc sẽ có được sự hưởng thụ giải trí bổ ích và trang nhã . Vì thế, từng người đọc sẽ tìm đến một loại TP phù hợp nhất định nào đó. Đôi khi người sáng tác coi sáng tác VH là một “trò chơi”. Một trò chơi đầy say mê và hiểu biết
Tham khảo: Ý kiến của Phan Kế Bính về văn chương: “ Văn là gì? Văn là vẻ đẹp. Chương là gì? Chương là vẻ sáng. Lời nói của người ta rực rỡ, bóng bẩy tựa như có vẻ đẹp vẻ sáng, cho nênb gọi là văn chương”. “ Người ta ai là không có tính tình, có tư tưởng? Đem cái tính tình , tư tưởng ấy diễn ra thành câu nói, tả ra thành đoạn văn gọi là văn chương. Vậy thì văn chương tức là một bức tranh vẽ cái cảnh tượng của tạo hoá cùng là tính tình và tư tưởng của loài người bằng lời nói vậy”
( Phan Kế Bính – Việt Hán văn khảo, Mặc lâm xuất bản, Sài Gòn, 1970, trang 9)
GS Trần Đình Sử cho rằng : “ Có lẽ người Việt Nam hiện đại, không mấy ai diễn đạt khái niệm văn chương trung đại rõ ràng , chuẩn xác như ông Phan Kế Bính” ( Trần Đình Sử- Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXB Giáo dục, H, 1999, trang91)
Trần Định @ 20:54 16/11/2011 Số lượt xem: 17992