Mình làm đầy đủ câu 1 → câu 5 theo văn bản bài thơ “Nhàn” – Nguyễn Bỉnh Khiêm nhé:
Câu 1 (0,5 điểm):
Thể thơ:
→ Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2 (0,75 điểm):
Những hình ảnh thể hiện nét sinh hoạt hằng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả:
- “Một mai, một cuốc, một cần câu”
- “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá”
- “Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”
- “Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống”
→ Đây đều là những hình ảnh gắn với cuộc sống thôn dã, giản dị, hòa hợp với thiên nhiên.
Câu 3 (0,75 điểm):
Biện pháp tu từ liệt kê trong hai câu thơ:
“Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”
Tác dụng:
- Liệt kê các vật dụng lao động quen thuộc của nhà nông.
- Gợi lên cuộc sống giản dị, tự cung tự cấp, không vướng bận danh lợi.
- Nhấn mạnh lối sống nhàn tản, thanh thản trong tâm hồn của tác giả, đối lập với “vui thú” nơi trần thế.
Câu 4 (1,0 điểm):
Quan niệm “dại – khôn” đặc biệt của tác giả:
“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao”
- “Dại” ở đây là chủ động rời xa danh lợi, tìm cuộc sống yên tĩnh.
- “Khôn” là chạy theo quyền quý, bon chen nơi ồn ào.
- Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đảo ngược cách nhìn thông thường, thể hiện trí tuệ uyên thâm và bản lĩnh của bậc hiền triết: cái “dại” thực chất là khôn ngoan, còn cái “khôn” hóa ra là mê muội.
Câu 5 (1,0 điểm):
(Đoạn văn 5-7 dòng)
Qua bài thơ Nhàn, tôi cảm nhận Nguyễn Bỉnh Khiêm là một con người có nhân cách cao đẹp và trí tuệ uyên thâm. Ông lựa chọn lối sống giản dị, thanh đạm, hòa hợp với thiên nhiên, xa rời danh lợi tầm thường. Quan niệm sống “dại – khôn” của ông thể hiện cái nhìn sâu sắc, tỉnh táo trước cuộc đời đầy bon chen. Dù ẩn dật, ông không trốn tránh cuộc đời mà chủ động giữ gìn cốt cách thanh cao. Nhân cách ấy toát lên vẻ đẹp của một bậc hiền triết phương Đông.