Rumi: Khi thơ ca tuôn chảy, thế gian ngưng đổ máu Thơ ca: Cầu nối đưa Hoàng đế La Mã chinh phục quần chúng
1. Đa quan niệm về yếu tính của thơ
Có thể nói, khi đọc thơ, ai cũng có cho riêng mình một định nghĩa về thơ, một quan niệm về yếu tính của thơ, phản ánh trung thực “tầm đón nhận” (kiến văn, năng lực cảm thụ, gu thẩm mĩ…) của mỗi người. Với người này, yếu tính của thơ là tứ, cấu tứ: “Tứ thơ, cấu tứ thơ chính là dấu vết cuối cùng để nhận biết đó là “thơ” hay “không thơ” trong các bút pháp có tính hậu hiện đại” (Nguyễn Đức Tùng); nhưng với người khác thì: “Thơ hiện đại không nhất thiết lúc nào cũng lập tứ. Hạt chữ được “ném” đúng chỗ tự thân sẽ nảy mầm, sẽ phát sáng, sẽ tuần hoàn, sẽ ảo diệu đến… vô ngôn” (Phan Hoàng).
Người này quan niệm yếu tính của thơ là cách “làm chữ”, cách tổ chức ngôn ngữ: “Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này” (Phan Ngọc); Thơ là cách “sử dụng ngôn ngữ”, là “cấu trúc riêng” để “tạo hiệu ứng đặc biệt nơi người đọc”, “hình thức của nó, cách tổ chức ngôn ngữ của nó là điều quyết định để cho nó trở thành thơ” (Quốc Việt);
Thơ là “bóp méo ngôn ngữ hàng ngày một cách nghệ thuật” (Thụy Khuê), chữ “chính là yếu tính của thơ; vì nếu viết không khéo, chữ chỉ là những câu nói giao tiếp có vần hoặc không vần mà thôi” (Triệu Từ Truyền)…;
Nhưng người khác lại quan niệm “chữ” chỉ là phương tiện để đi đến mục đích là được phơi trải, bộc giãi: “Bài thơ thực sự sống bằng đời sống tinh thần khác biệt, trội vượt của tác giả, chứ không sống bằng hình thức thuần túy kí hiệu của văn bản thơ. Chữ là phương tiện, chữ chưa bao giờ là mục đích của thơ. Đó là chân lí không thể thay đổi” (Dương Kiều Minh).
“Xét cho cùng thì chữ dù là phương tiện hay mục đích thì cái cuối cùng vẫn là điều tôi muốn chia sẻ, muốn giãi bày với độc giả là gì” (Trương Trọng Nghĩa). “Thơ sinh ra không phải cho người đời chơi chữ, mà cốt để chuyển tải nỗi lòng” (Vương Trọng)…
Người này quan niệm yếu tính của thơ là nhạc điệu: Yếu tính của thơ là “cấu trúc âm nhạc nội tại của nó” (Nguyễn Đức Tùng), “Thiếu nhạc tính cho thơ, những yếu tố khác như tư tưởng, không thể bay lên và tạo cảm xúc nơi người đọc” (Khế Iêm). “Dù thế nào, thơ vẫn phải có nhạc điệu” (Phạm Sỹ Sáu). “Thiết nghĩ thơ hay đến mấy, cao siêu đến mấy nếu thiếu vần điệu khác nào cho ăn mà không cho uống, hỏi làm sao tiêu hóa được” (Dương Danh Dũng)…
Người khác lại quan niệm yếu tính của thơ là xúc cảm: “Yếu tính của thơ là xúc động, tình cảm” (Mã Giang Lân); “Yếu tính của văn chương đương đại chính là nhằm diễn tả trực tiếp các cảm xúc” (Nguyễn Viện)…; người khác nữa lại quan niệm yếu tính của thơ là tư tưởng: “Cái quan trọng nhất của một bài thơ là cái tình và cái tầm của tư tưởng mà nó mang đến cho người đọc” (Trần Mạnh Hảo)…
Cứ như vậy, người ta khó tìm được tri âm rộng rãi trong quan niệm về yếu tính của thơ. Một khi đã quan niệm về yếu tính của thơ không giống nhau thì trước một đối tượng thơ bất kì đều xảy ra hiện tượng đa tiếp nhận.
Chẳng hạn, đọc thơ Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Hoàng Hưng, những ai quan niệm yếu tính của thơ là cách “làm chữ”, cách tổ chức ngôn ngữ thì sẽ cho đây là “thơ đến tận cùng”, tác giả của chúng là những “phu chữ”; những ai quan niệm yếu tính của thơ là “điều chia sẻ, giãi bày” thì sẽ vội vàng cho đây là thơ “hũ nút”; những ai gặp gỡ cái mà theo mình là yếu tính của thơ thì sẽ cho đây là “chính thơ”; ngược lại, những ai tìm hoài không thấy thì sẽ cho đây là “phản thơ”…





