Nhắc đến Ngô Tất Tố, người ta lại nhớ đến một nhà văn với tấm lòng lương tri cao đẹp, mở ra giai đoạn văn chương hiện thực cùng với những tác phẩm đã trở thành tuyệt tác sống mãi với cuộc đời. Như lời nhận xét của nhà nghiên cứu Mai Hương: “Vượt lên mọi hư danh, cám dỗ, Ngô Tất Tố đã biết đánh đổi cơm áo để lấy cái quyền viết theo chỉ thị của trái tim mình, trái tim chỉ thuộc về đất nước mà ông hết lòng yêu thương, chỉ thuộc về nhân dân mà ông thiết tha gắn bó. Chính đó là cái lõi để tạo nên tài năng lớn, đa dạng nơi ông.”
l/ Tác phẩm, tác phẩm
Ngô Tất Tố (1893 – 1954) sinh tại Lộc Hà, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh nay thuộc Đông Anh, Hà Nội. Từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, đỗ đầu kì thi khảo hạch vùng Kinh Bắc. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học, trưởng thành trong buổi giao thời giữa văn hóa Việt và văn hóa phương Tây, giữa văn chương cổ điển và văn chương hiện đại, Ngô Tất Tố cùng với những nhà văn ngày ấy tạo nên một thế hệ “nhà nho-trí thức” của văn học Việt Nam vào đầu những năm thế kỉ 20. Khi nền Hán học suy tàn, Ngô Tất Tố tự học chữ Quốc ngữ và học tiếng Pháp. Về sau ông trở thành một nhà văn, nhà dịch thuật và khảo cứu nổi tiếng. Sau Cách mạng tháng Tám, Ngô Tất Tố sống và tích cực tham gia văn hóa, nghệ thuật tại chiến khu Việt Bắc. Ông qua đời trước chiến thắng của chiến dịch Điện Biên Phủ vài ngày.
Tác phẩm Tắt đèn được Ngô Tất Tố viết vào năm 1937. Năm ấy lụt lột xảy ra liên miên, mất mùa, đói kém, đời sống nông dân đặc biệt khó khăn. Đã thế còn phải chịu biết bao thứ thuế, áp bức từ bọn cường hào, thực dân, địa chủ… Thời thế rối ren. Và rồi năm tháng ấy đã đi vào văn chương. Ngô Tất Tố đặt ngòi bút của mình trong từng trang văn, viết về sự khốn khổ của những người nông dân một cách thiết tha. Chính lòng yêu nước, tình cảm gắn bó với số phận người nông dân như một nội lực khiến Ngô Tất Tố viết nên thi phẩm Tắt đèn, đưa tên tuổi của ông cùng những tác phẩm vụt sáng trên diễn đàn thơ ca Việt Nam. Tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Nga, Trung… và được chuyển thể thành phim truyện Chị Dậu vào năm 1981.![[ Tóm Tắt & Review Sách ] "Tắt Đèn": Sự Đấu Tranh Giữa Bóng Tối Và Ánh Sáng - YBOX](https://tailieuhoctap.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/tom-tat-tat-den.png)
Tác phẩm xoay quanh nhân vật trung tâm – chị Dậu. Dưới thời Pháp thuộc, chúng đưa ra đủ loại sưu cao thế nặng. Nhà chị Dậu cùng với biết bao gia đình khác phải chịu cảnh mất mùa đói kém đã đành, còn phải nộp sưu thuế cho chúng. Sau hai cái tang, nhà anh Dậu vốn đã nghèo lại còn nghèo hơn, và hai vợ chồng anh đã trở thành người nghèo nhất làng. Làm lụng không lúc nào nghỉ ngơi mà cái nghèo vẫn cứ bám riết hai số phận bất hạnh. Sau, chồng chị ngã ốm. Nhà đã nghèo nay lại càng nghèo hơn. Đến mùa nộp sưu, nhưng nhà lại không có tiền để nộp, anh Dậu thì bị bọn cường hào bắt trói đi khiến chị phải đứt ruột bán đứa con gái lớn của mình – cái Tý với đàn chó mới đẻ cho nhà Nghị Quế – một ngôi nhà giàu có và quyền uy khắp vùng. Giàu có là thế nhưng bọn họ lại keo kiệt, bủn xỉn đến độ chỉ trả cho chị mấy đồng rẻ mạt. Tưởng đâu lần này có thể chuộc chồng ra, nhưng bọn chúng ngang ngược tới mức bắt chị phải nộp sưu cho người đã chết từ đời nào. Thế là bao nhiêu tiền đã mất hết. Tưởng rằng mọi chuyện đã kết thúc nhưng bọn Cai lệ vẫn kiếm cớ hành hạ chồng chị. Bị dồn vào đường cùng, chị Dậu đã vùng lên đánh trả – một chi tiết đắt giá trong truyện. Một thời gian sau, chị được người ta giới thiệu đi làm vú em cho nhà cụ Cố. Nhưng vào một đêm, người đàn ông với đầu đã hai thứ tóc ấy lại giở trò đồi bại với chị. Trong cái đêm tối như mực ấy, chị chạy ra ngoài, khuất sau màn đêm đen tịch mịch.
II/ Nội dung
1/ Chị Dậu – người phụ nữ với cuộc đời bất hạnh nhưng lại vô cùng kiên cường
Chị Dậu được miêu tả là một người con gái trẻ, xinh đẹp, chỉ mới 24 tuổi. Trước khi lấy anh Dậu, chị tên thật là Lê Thị Đào. Sau cưới anh Nguyễn Văn Dậu thì liền được xưng là chị Dậu. Về sau, khi nhắc đến cái khổ, người ta vẫn thường ví von rằng : “Khổ như chị Dậu”. Bởi lẽ cuộc đời của chị trong tác phẩm Tắt đèn trần trụi đến xót xa. Vốn ban đầu không quá khó khăn, nhưng phải chịu cảnh mẹ và em trai anh Dậu cùng qua đời, về sau anh Dậu còn mắc bệnh không thể đi làm. Thế là mọi gánh nặng đều đè nặng lên vai nhỏ bé của chị. Hình ảnh chị Dậu chính là hiện thân cho biết bao người phụ nữ, người nông dân đói khổ ngày ấy: làm mẹ, làm vợ, lo lắng quán xuyến mọi việc trong nhà. Những trang văn đầu tiên, người đọc đã biết được cảnh chị phải chăm sóc chồng, cảnh hai đứa nhỏ cứ tru tréo khóc và con Tý – bảy tuổi – là chị cả nên vô cùng hiểu chuyện, nó trông em giúp mẹ, đỡ đần mẹ biết bao công việc. Vậy mà chỉ vì sưu của bố nó, chị Dậu đem Tý cùng đàn chó đi sang nhà cụ Nghị Quế để xin bán. Khung cảnh chia ly đứt ruột gan ấy được Ngô Tất Tố diễn tả chua xót đến nghẹn ngào.
“U bán con thật đấy ư? Con van u, con lạy u, con còn bé bỏng, u đừng đem bán con đi, tội nghiệp. U để cho con ở nhà chơi với em con.”
Ngay cả khi được bán, người ta lại còn coi trọng mấy con chó hơn là con bé Tý.
“Bà Nghị căn vặn nhắc đi nhắc lại: Nhớ lấy cái gì đậy cho mấy con chó con, kẻo nó bị nắng.”
Người ta rải cơm cho chó ăn, bắt con chị phải nhặt đống cơm vừa rải đó mà ăn cùng. Ngay giây phút ấy, một nhát dao đã xuyên vào trái tim chị. Bán con đi rồi, chị đã bán đi cả nửa linh hồn mình. Con bé Tý thương mẹ, nó không dám gào khóc, chỉ biết sụt sịt hai hàng nước mắt chảy dài. Cả khi người ta bắt nó ăn cơm của chó, chỉ vì thương mẹ, sợ mẹ bị cụ Nghị làm khó liền vội vàng đón lấy rá cơm, rụt rè nó bốc một nắm bỏ vào miện mà nhai. Thế rồi chị ký văn tự, cắp nón ra về với trái tim đau nhói cùng lời khẩn khoản của con Tý rằng nhớ chuộc nó ra. Bất kỳ người mẹ nào nhìn thấy con đau, con ốm mà chẳng thương chẳng tiếc. Đằng này chị Dậu lại còn phải rơi đến bước đường cùng đến nỗi bán đi đứa con của mình. Còn điều gì đau đớn hơn với một người làm cha làm mẹ. Nhưng bất hạnh nối tiếp bất hạnh. Những tưởng đâu cầm tiền đến rồi người ta sẽ thả chồng chị ra nhưng nào ngờ bọn chúng lại còn bắt đóng sưu của người đã chết từ đời nào.
“Trời ơi! Tôi bán cả con lẫn chó và hai gánh khoai, mới được hai đồng bẩy bạc. Tưởng rằng đủ tiền nộp sưu cho chồng, thì chồng tôi khỏi bị hành hạ đêm nay? Ai ngờ lại còn xuất sưu của người chết nữa! Khốn nạn thân tôi! trời ơi! em tôi chết rồi còn phải đóng sưu, hở trời? Tôi biết đâm đầu vào đâu cho được hai đồng bẩy bạc bây giờ?”
Tiếng kêu thấu trời của chị chính là sự bất lực của biết bao người nông dân trong những năm tháng ấy. Phải cống nạp biết bao sưu cao thuế nặng. Người nghèo thì bị chúng bòn rút đến tận xương tủy chỉ để làm sao có thật nhiều tiền nhất có thể. Để rồi cuối cùng, chị cùng chồng trở về cùng với món nợ là một mẫu rưỡi ruộng. Anh Dậu bị người ta đánh thừa sống thiếu chất, đã có bệnh sẵn nay nhìn anh lại càng tiều tụy thêm. Chính một tay chị Dậu phải phải chăm sóc anh, chăm sóc hai đứa con cứ khóc ầm ĩ đòi chị Tý trở về.
Nhưng một khi con người ta bị áp bức quá lâu, sẽ dẫn tới phản kháng. Khi Người nhà Lý trưởng nghênh ngang múa chiếc tay thước với sợi dầy thừng, đưa ông Cai lệ và cây roi song hùng dũng bước vào trong cổng. Xồng xộc vào nhà chị và quát tháo nộp tiền sưu ra. Ban đầu chị Dậu còn khẩn thiết xưng hô “Cháu – ông” nhưng bọn chúng vẫn chẳng có một chút cảm thông cho sự nghèo túng và bệnh tật của chồng chị. Chị Dậu đã phản kháng. Sự đánh dấu cho lần vùng dậy đầu tiên của chị. Ngay đến cả cách xưng hô của chị cũng thay đổi.
“Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!”
Chính bản thân chị hiểu rõ rằng nếu phản kháng lại thì chị sẽ bị làm khó làm dễ, phạm tội lớn còn có thể bị bắt bỏ tù. Nhưng mãi cảnh áp bức như thế này chị chịu không nổi. Dù chỉ diễn ra ngắn ngủi nhưng lại là một trong số những chi tiết đắt giá của tác phẩm. Nếu một người bé nhỏ đứng lên đấu tranh thì có thể bị vùi dập nhưng nếu tất cả những con người bé nhỏ ấy đều cùng nhau đứng lên, chắc chắn sẽ dẫn tới một kết quả khác. Có thể thay đổi cả cuộc đời của họ.
Lần vùng dậy thứ hai là lúc chị Dậu mở toanh cửa chạy đi trong đêm tối sau khi ông cụ Cố giở trò đồi mại với mình. Chị đã bỏ chạy để lại sau lưng là ngôi nhà vẫn cứ sáng toang và phía trước là một màn đêm đen kịt.
2/ Nghệ thuật miêu tả của Ngô Tất Tố
Một điều phải thừa nhận rằng trong tác phẩm Tắt đèn của mình, Ngô Tất Tố đã biết miêu tả những khung cảnh đối lập nhau khiến người đọc có thể hình dung rõ hơn về bối cảnh, địa vị và sự khác nhau rõ rệt của những con người ngày ấy. Hình ảnh gia đình cụ Nghị nhà cao cửa rộng, người ở kẻ hầu đi lại tấp nập, cơm canh trên bàn không thiếu thứ nào và cái đồng hồ “phương Tây” bóng loáng mà cụ Nghị vẫn hay nhìn để xem giờ giấc. Trái ngược hẳn ở trước thềm nhà cụ, hai mẹ con chị Dậu quần áo lấm lem, đen nhẻm, áo chỗ rách chỗ khâu van nài bán đi đàn chó với đứa con gái lớn của mình. Người ta được ăn đủ thức món ngon, con chị phải ăn cơm người ta rải cho chó. Hay khung cảnh anh Dậu cùng với những người chưa đóng sưu, nằm vật vờ với cái tay bị trói chặt đến tê cứng dưới cái nắng chang chang. Bên trên lại là lối sống xa hoa, hưởng lạc của bọn quan chức.
“Trên đình ăn uống đã tàn. Chánh tổng ngậm tăm nằm cạnh bàn đèn, hai mắt lim dim giở ngủ. Cai lệ ngồi nhổm hai chân cạo lọ cặp môi thâm xịt nhành ra gần tới mang tai. Cậu lính cơ lấy hết gân guốc trên bộ mặt đỏ gay, ra sức nghiền cục sái trong cái chén mẻ. Mấy ông Hương trưởng, Tộc biểu, Trương tuần xúm quanh cái điếu đàn và chiếc ấm tay, kẻ hút thuốc, người phùng miệng thổi bát nước nóng. Lý trưởng tựa lưng bên bức câu lơn, thù tiếp Chánh hội, Phó hội bằng mâm cỗ chỉ còn rau chuối và lá tía tô. Thư ký, Chưởng bạ lễ phép chìa đũa, mời nhau gắp mấy miếng thịt mỡ khô cong các cạnh.”
Chúng thản nhiên hưởng thụ trên chính đôi vai của những người dân nghèo khổ, áp cho họ biết bao thứ thuế vô lý đâu đâu. Người giàu thì lại càng giàu mà nghèo như gia đình chị Dậu thì lại càng nghèo. Hay như trong tác phẩm Vỡ đê của Ngô Tất Tố, khung cảnh đối lập ấy cũng được nhắc đến một lần nữa để tố cáo sự thối nát, mục rữa của đám cường hào ác bá. Chúng dửng dưng trước những lời kêu thấu trời của dân mà vung tiền để hưởng biết bao thú khoái lạc trên đời. Đẩy biết bao con người đói khổ ngày ấy tan cửa nát nhà. Ngô Tất Tố đã dùng ngòi bút hiện thực của mình mà thẳng tay tố cáo những kẻ xấu xa ngày ấy.
Ở Ngô Tất Tố có cái nhìn vô cùng trân trọng, yêu thương và tin tưởng vào người nông dân. Đối với tác phẩm của ông, dù người nông dân có bị dồn vào bước đường cùng thì vẫn giữ gìn được bản chất thiện lương, trong sạch mà mình vốn có.
“Chị Dậu là nhân vật điển hình được người đọc yêu mến. Và người yêu mến chị hơn cả là Ngô Tất Tố. Giữa biết bao tệ nạn và cảnh đời bất công ngang trái ở nông thôn Việt Nam cũ, Ngô Tất Tố đã hết lòng bảo vệ một người phụ nữ là chị Dậu. Nhiều lần chị Dậu bị đẩy vào tình thế hiểm nghèo, rất có thể bị làm nhục nhưng Ngô Tất Tố đã bảo đảm cho chị Dậu được bảo đảm an toàn phẩm toàn vẹn, giữ trọn phẩm giá, không phải đau đớn, dằn vặt.”
Ông còn được gọi “nhà văn của những người chân lấm, tay bùn” khi lên án chính sách thuế thân tàn bạo, phi lí của thực dân Pháp khiến bao người nông dân rơi vào cảnh thống khổ, bị đày đọa đến nỗi không có lấy một lối thoát ra. Nhưng vẫn phảng phất trong đó tấm lòng yêu thương da diết của ông, mong muốn cứu lấy những cuộc đời bất hạnh. Mỗi tác phẩm của nhà văn đều bộc bạch nỗi niềm yêu thương, sự đồng cảm nên câu văn chẳng cần bóng bẩy, hoa mỹ mà là những câu từ chân thực, gần gũi đến mức trần trụi. Ngô Tất Tố miêu tả vô cùng chi tiết những mảng tối của xã hội ngày ấy chính là sự xấu xa, tàn nhẫn, ích kỷ, lạc hậu của những kẻ tầng lớp trên. Ông ca ngợi tâm hồn, tấm lòng thiện lương của người nông dân – chính là điểm sáng hiện lên giữa một vùng trời tăm tối ấy. Từ đó truyền tải thông điệp bài học ý nghĩa, giúp người đọc đồng cảm, thấu hiểu với những mảnh đời khốn khổ cùng cực và tố cáo tội ác của những kẻ lộng quyền ngày ấy. Ngay cả xã hội hiện đại, đôi lúc ta vẫn thấy những sự bất công, những con người thấp cổ bé họng phải chịu cảnh chèn ép, áp bức của những người có thế lực mạnh hơn. Đó chính là giá trị hiện thực dưới ngòi bút của Ngô Tất Tố. Thời nào cũng có những mảng màu tối và sáng, quan trọng chính là tấm lòng thiện lương của chính mình và sự dám đứng lên bảo vệ chính nghĩa, lên án, đấu tranh trước những hành động xấu xa, phi nghĩa.
3/ Ý nghĩa nhan đề Tắt Đèn
Hình ảnh đèn hiện lên luôn để nói đến ánh sáng, giúp soi sáng con đường, soi sáng mọi vật chung quanh, giúp dẫn lối đi cho con người. Đặc biệt là trong các tác phẩm văn học thì hình ảnh ngọn đèn vẫn luôn trở thành ánh sáng dẫn tối, rọi sáng tương lai của những kiếp người khốn khổ. Nhưng ở đây, ánh đèn đó lại bị “Tắt” đi. Cả cuộc đời của chị Dậu có lẽ chỉ sáng những khi con chị cười, gia đình êm ấm, hạnh phúc như biết bao người nông dân ngày ấy. Nhưng hạnh phúc chẳng được kéo dài bao lâu khi bi kịch nối tiếp bi kịch, khiến ngọn đèn leo lắt ấy lại cứ lạnh lùng bị dập tắt đi, để lại đời chị những mảng tối mà kêu trời trời không thấu, khóc hoài chẳng ai nghe. Khi ánh đèn ấy bị tắt đi, bóng tối của áp bức, của bót lột, của sự tuyệt vọng, của những mất mát, hy sinh của người nông dân nghèo khổ ngày ấy được hiện lên rõ ràng hơn bao giờ hết. Ngay cả đến những dòng chữ cuối cùng, bóng tối dường như vẫn che phủ hoàn toàn cuộc sống và hy vọng về tương lai của chị.
“Buông tay, chị vội choàng dậy, mở cửa chạy té ra sân. Trời tối như mực và như cái tiền đồ của chị.”
Bóng tối ấy đã bao trùm toàn bộ tác phẩm nhưng đâu đó vẫn có vài tia sáng le lói chợt vụt qua. Có lẽ thứ không bao giờ tắt chính là niềm khao khát sống mãnh liệt và chí ý kiên cường của chị, của biết bao người nông dân ngày ấy. Dù đi trong bóng tối nhưng chắc chắn ta sẽ thấy vệt sáng ở cuối con người. Ngô Tất Tố đã viết một bản tố cáo đanh thép tội ác của giai cấp thống trị tàn bạo và bày tỏ niềm cảm thông vô tận với những số phận như chị Dậu, anh Dậu, cả gia đình chị và biết bao người nông dân khác. Và trở thành niềm thôi thúc, giúp những người ngày ấy nhận thức, ấp ủ sự phản kháng với ách thống trị tàn bạo.
III/ Kết luận
Qua nhiều thăng trầm lịch sử, tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố vẫn cứ rực sáng mãi trên diễn đàn thơ ca văn học Việt Nam. Ngô Tất Tố đã khai thác đến tận cùng những tầng sâu nỗi khổ của người nông dân như trên các luống cày của đất quê. Ở đó, chị Dậu – như một “đốm sáng”. Chị rực rỡ, phẩm hạnh, thiện lương, là hình tượng điển hình của biết bao người nông dân thiện lương nhưng phải chịu kiếp đời đau đớn, xót xa. Chị Dậu với nỗi thống khổ, số phận nghiệt ngã và những đức tính, cốt cách đẹp đẽ chính là lời tố cáo đanh thép cho bọn giai cấp thống trị tàn bạo. Ngô Tất Tố đã để lại những kiệt tác phê phán xã hội lúc bấy giờ, xứng danh là một nhà văn hiện thực sắc xảo, một cây bút sâu sắc của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945.
![[ Tóm Tắt & Review Sách ] "Tắt Đèn": Sự Đấu Tranh Giữa Bóng Tối Và Ánh Sáng - YBOX](https://tailieuhoctap.edu.vn/wp-content/uploads/2026/01/tom-tat-tat-den-3.png)
Tóm tắt bởi : Ngọc Anh – Bookademy
Hình ảnh: Ngọc Anh – Bookademy
–
Theo dõi fanpage của Bookademy để cập nhật các thông tin thú vị về sách tại link: https://www.facebook.com/bookademy.vn
(*) Bản quyền bài viết thuộc về Bookademy – Ybox. Khi chia sẻ hoặc đăng tải lại, vui lòng trích dẫn nguồn đầy đủ “Tên tác giả – Bookademy.” Các bài viết trích nguồn không đầy đủ cú pháp đều không được chấp nhận và phải gỡ bỏ.





