Dù triều Nguyễn đã đầu hàng thực dân Pháp nhưng trong nội bộ vẫn có những nhân vật chủ trương kháng chiến. Thượng thư Bộ binh Tôn Thất Thuyết (1839-1913) là người đứng đầu phái chủ chiến. Sau khi vua Tự Đức mất, để chuẩn bị cho công cuộc đánh Pháp, ông đã bí mật xây dựng các căn cứ ở miền núi rừng Quảng Trị và các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, đêm ngày tích trữ lương thảo, chiêu tập và rèn luyện quân sĩ. Ông cũng loại bỏ những người thuộc phái chủ hòa và đưa Nguyễn Phúc Ưng Lịch (vua Hàm Nghi) có tư tướng yêu nước lên ngôi (1885).
Việc Hàm Nghi lên ngôi mà không thông qua Khâm sứ Pháp khiến thực dân Pháp xem đây là một sự xúc phạm nghiêm trọng. Quân Pháp từ Bắc Kỳ ngang nhiên kéo vào Huế, chiếm đóng đồn Mang Cá để kiểm soát mọi hoạt động của triều đình.
Trước tình thế bức bách, Tôn Thất Thuyết quyết định tấn công trước để giành thế chủ động. Ngày 05/7/1885, quân ta đánh vào đồn Mang Cá và tòa Khâm sứ. Quân Pháp sau cơn lúng túng ban đầu, dựa vào sự chênh lệch rõ rệt về vũ khí, đã phản công đẩy lui quân ta. Tôn Thất Thuyết phải rút lui, đưa theo Hoàng đế Hàm Nghi rút lên căn cứ Tân Sở ở Quảng Trị. Quân Pháp đã tàn sát dã man Nhân dân Huế và tràn vào đốt phá hoàng thành.
Tại Tân Sở, ngày 13/7/1885, Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi để ban chiếu Cần Vương kêu gọi Nhân dân cả nước vùng lên đánh đuổi giặc Pháp, cùng triều đình kháng chiến.
Hưởng ứng lời kêu gọi của vua Hàm Nghi, khắp nơi trong nước, nhất là ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ đã bùng lên cao trào giúp vua cứu nước. Phong trào này được sử sách gọi là phong trào Cần Vương.
Phong trào Cần Vương phát triển qua hai giai đoạn: 1885-1888 và 1888-1896.
– Giai đoạn những năm 1885-1888: Phong trào diễn ra trên cả nước, về danh nghĩa vẫn chịu sự chỉ đạo chung của triều đình kháng chiến do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết lãnh đạo. Các thủ lĩnh nghĩa quân tiêu biểu trong giai đoạn này là Mai Xuân Thưởng ở Bình Định, Trần Văn Dư ở Quảng Nam, Lê Trung Đình ở Quảng Ngãi, Lê Trực ở Quảng Bình, Lê Ninh, Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh, Tạ Hiện ở Thái Bình, Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên…
Trước những khó khăn ngày càng lớn, Tôn Thất Thuyết đã sang Trung Quốc tìm kiếm sự giúp đỡ (cuối năm 1886). Ông bị thực dân Pháp câu kết với chính quyền nhà Thanh giữ lại, không cho trở về. Ông mất năm 1913.
Tháng 11/1888, do có nội phản. Hàm Nghi bị thực dân Pháp bắt. Chúng đã đày ông sang Angiêri là thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi. Ông mất ở đó năm 1944.
– Giai đoạn những năm 1888-1896: Triều đình kháng chiến không còn, phong trào không còn lan rộng như trước mà dần quy tụ thành các cuộc khởi nghĩa lớn. Năm 1896, khi khởi nghĩa Hương Khê bị dập tắt, phong trào Cần Vương cũng chấm dứt.
Trong cả hai giai đoạn, những cuộc khởi nghĩa sau đây là tiêu biểu nhất:
Khởi nghĩa Ba Đình (1886-1887) do Phạm Bành và Đinh Công Tráng phát động. Hai ông xây dựng cứ điểm Ba Đình tại ba làng Mỹ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh (Nga Sơn, Thanh Hóa). Dựa vào cứ điểm Ba Đình, nghĩa quân đã nhiều lần đẩy lui các cuộc tiến công của giặc Pháp.
Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892) ban đầu do Đinh Gia Quế lãnh đạo, từ năm 1885 là Nguyễn Thiện Thuật. Bãi Sậy (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) là vùng lau sậy um tùm và rộng mênh mông. Dựa vào đó, nghĩa quân Nguyễn Thiện Thuật tổ chức lối đánh du kích, gây cho Pháp nhiều thiệt hại.
Khởi nghĩa Tây Bắc (1885-1892) do Nguyễn Quang Bích chỉ huy. Vốn là Tuần phủ Hưng Hóa, sau khi thành bị Pháp chiếm vào đầu năm 1884, ông rút về Hưng Yên. Triều đình ra lệnh bãi binh nhưng ông không tuân lệnh và trả lại ấn tín rồi lên miền thượng du chiêu tập Nhân dân chống Pháp.
Khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896) do Phan Đình Phùng khởi xướng. Ông lấy Hương Khê (Hà Tĩnh) làm căn cứ chính và mở rộng phạm vi hoạt động ra khắp bốn tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Nghĩa quân đã đánh nhiều trận vang dội như Hương Sơn, Ngàn Sâu, Vụ Quang…
Qua 12 năm tồn tại (1885-1896), phong trào Cần Vương đã thể hiện mạnh mẽ tinh thần yêu nước và ý chí bất khuất chống ngoại xâm của các tầng lớp nhân dân Việt Nam. Phong trào tuy thất bại nhưng tên tuổi của Tôn Thất Thuyết, Hàm Nghi, Nguyễn Thiện Thuật, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Phan Đình Phùng… vẫn trường tồn cùng sông núi. Gương chiến đấu anh dũng của họ và hàng vạn nghĩa sĩ đã tiếp thêm sức mạnh để toàn dân tộc tiếp tục tranh đấu với kẻ thù cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn.
Tài liệu tham khảo: Những điều cần biết về lịch sử Việt Nam (Hỏi – đáp) (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật).
TỔNG ĐÀI DỊCH VỤ CÔNG tiếp tục đăng tải Những điều cần biết về lịch sử Việt Nam (Hỏi – đáp).
Chi tiết các câu hỏi – trả lời khác, Quý anh/chị vui lòng liên hệ đường dây nóng 0236 1022 để được cung cấp (cước gọi điện 200đ+/phút, KHÔNG THU PHÍ PHỤC VỤ).