Hoặc tưởng tượng bạn đang đẩy một đứa trẻ trên xích đu: đứa trẻ và xích đu tạo thành một con lắc tự nhiên, con lắc này sẽ có tần số tự nhiên vốn có (tốc độ đu đưa qua lại). Nếu bạn đẩy sai tần số (quá nhanh hoặc quá chậm) thì bạn có khả năng chặn chuyển động và làm chậm quá trình xoay người; tuy nhiên, nếu bạn đẩy bằng hoặc gần với tần số tự nhiên của xích đu thì bạn sẽ tăng biên độ của trẻ và xích đu.
Một ví dụ khác là một thí nghiệm nổi tiếng sử dụng hai âm thoa trên bàn. Nếu bạn đánh vào một trong các âm thoa và áp đế của nó vào mặt bàn để tạo ra một nốt nhạc, nếu bạn cũng đặt nó cạnh một âm thoa thứ hai, thì nó cũng sẽ bắt đầu rung và tạo ra âm thanh tương tự, mặc dù nó không bị đánh.
Lịch sử cộng hưởng trong ngành chế tác đồng hồ
Nói một cách chính xác, tất cả đồng hồ cơ học, dù là đồng hồ quả lắc hay đồng hồ tự động có bánh xe cân bằng, đều có thể được mô tả là ‘cộng hưởng’ – mỗi loại có một tần số tự nhiên mà chúng dao động hoặc dao động, được sử dụng để giữ thời gian. Tuy nhiên, điều làm nên sự khác biệt của đồng hồ cộng hưởng là sự phức tạp trong việc khai thác các lợi ích về thời gian hiện hành bằng cách giới thiệu một chức năng phức tạp thể hiện hiện tượng cộng hưởng được mô tả ở trên.
Christiaan Huygens, người phát minh ra đồng hồ quả lắc, lần đầu tiên nhận thấy trong xưởng của mình vào năm 1655 rằng nếu ông có nhiều đồng hồ quả lắc được treo trên cùng một thanh gỗ, thì theo thời gian dao động của những quả lắc này sẽ đồng bộ với nhau. Nếu anh ấy làm gián đoạn điều này và đặt chúng độc lập, anh ấy nhận thấy chúng sẽ lại tự động đồng bộ hóa một lần nữa. Điều này đánh dấu ví dụ đầu tiên về sự cộng hưởng.
Đóng góp đáng chú ý tiếp theo cho sự phát triển của cộng hưởng là của Antide Janvier, một thợ làm đồng hồ người Pháp, người nổi tiếng với việc tạo ra đồng hồ “con lắc đôi” hoặc “đồng hồ cộng hưởng”, kết hợp hai chuyển động hoàn toàn riêng biệt với bộ thoát và con lắc riêng vào cùng một chiếc đồng hồ. với các con lắc đặt gần nhau. Giả thuyết ban đầu của ông khi bắt đầu công việc này đã được chứng minh là đúng: cộng hưởng có nghĩa là các con lắc cuối cùng sẽ đồng bộ hóa và dao động qua lại ở cùng một tần số, dẫn đến sự cải thiện tổng thể về độ chính xác vì bất kỳ phương sai nào về tần số dao động của một trong hai con lắc đều được tính trung bình.
Sự cộng hưởng cũng là thứ được cho là một trong những nhà chế tác đồng hồ có ảnh hưởng nhất trong lịch sử, Abraham-Louis Breguet. Vào thế kỷ 18, Abraham-Louis Breguet đã thể hiện trình độ vật lý bậc thầy của mình với chiếc đồng hồ cộng hưởng con lắc đôi của mình. Sự cộng hưởng trong chế tạo đồng hồ là một điều hiếm thấy, ngày nay chỉ có một số ít thợ đồng hồ kết hợp nó vào công việc của họ, điều này cho thấy mức độ phức tạp về mặt kỹ thuật của nó.
.jpg)