– Đâu là sức ép lớn nhất của đô thị hóa, công nghiệp hóa đối với nông nghiệp, nông dân thưa ông?
– Một trong những vấn đề căng nhất của công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH – HĐH) là quá trình này dứt khoát sẽ lấn vào đất nông nghiệp.
Quỹ đất lúa hiện nay có khoảng 4,1 triệu ha. Trong 20 năm tới, để đáp ứng mục tiêu phát triển và đột phá trong xây dựng kết cấu hạ tầng, đất trồng lúa sẽ phải tiếp tục chuyển sang mục đích phi nông nghiệp khoảng 450 – 500 nghìn ha. Nếu muốn đến năm 2030 có được 46 – 49 triệu tấn lương thực, trong đó có 43 – 44 triệu tấn lúa để đạt mức bình quân 350kg/người/năm cho 110 – 115 triệu dân thì phải có ít nhất 3,8 triệu ha đất trồng lúa với hệ số sử dụng đất là 1,95 (hiện là 1,6) và năng suất đạt 62 tạ/ha.
Những con số này là dựa trên số liệu thống kê chính thống, đang có khoảng cách nhất định so với thực tế. Nếu tổng hợp từ những mong muốn có tính tự phát của các địa phương thì con số phải chuyển đổi mục đích sử dụng không dừng lại ở mức 450 – 500 nghìn ha và diện tích đất lúa còn lại chỉ xấp xỉ 3 triệu ha. Đây là con số chúng tôi cảm nhận được.
– Nhưng ông đã nói đây là điều tất yếu!
– Không riêng Việt Nam, các nước trên thế giới đã qua thời kỳ này và họ phải xử lý ngay mối quan hệ giữa nông dân và đất đai. Không thể lấy không đất đai của nông dân, nhưng không lấy thì không có đất để phát triển. Bởi thế, phải làm sao để quá trình CNH – HĐH thu hút được số lao động nông thôn dôi dư khi đất nông nghiệp của họ bị thu hồi phục vụ CNH – HĐH.
Đây là vấn đề khó, có khi sẽ rất gay gắt! Giải quyết mối quan hệ này thành công hay không là ở năng lực quản trị xã hội của từng nhà nước. Yêu cầu trong quy hoạch và chiến lược phát triển phải luôn nghĩ đến cân đối lao động nông thôn với đất đai. Không do ý chí nhà nước mà cân đối được, mà đây là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị. Tất cả mọi người đều phải giác ngộ và thấy trước việc này. Lâu nay chúng ta chăm chú phát triển công nghiệp, đô thị, cơ sở hạ tầng, cho rằng cái đó mới đảm bảo cho sự phát triển; nhưng nếu không xử lý vế còn lại thì chính vế này kéo lui sự phát triển và sau này chúng ta sẽ phải trả giá.
– Xử lý những vấn đề tam nông là cực lớn và rất tổng hợp. Riêng về mặt sản xuất, theo ông, vấn đề nào cần đặc biệt quan tâm?
– Nói riêng mặt sản xuất, tôi cho cơ bản là xử lý thật tốt vấn đề đất đai. Ở đây, tôi quan tâm đặc biệt đến đất trồng lúa.
Sở dĩ tôi nói tốc độ giảm diện tích trồng lúa chưa có điểm dừng là chính sách của chúng ta chưa dứt khoát về chuyện này, chưa khẳng định được đến năm 2020, 2030 hoặc lâu hơn nữa chúng ta cần bao nhiêu đất trồng lúa. Vừa rồi, Quốc hội mới xác định là đến năm 2010 còn 4,1 triệu ha và có thể đến năm 2020 còn 3,8 triệu ha, 2030 còn 3,2 triệu ha. Đó có phải là con số cuối cùng không thì chúng ta cũng chưa thể khẳng định vì chưa có thực tiễn và chưa có nghiên cứu nào đầy đủ. Nhưng rõ ràng, việc giảm diện tích trồng lúa là một hiện thực phải chấp nhận. Để khắc phục, chúng ta cố gắng hãm tốc độ giảm diện tích đất trồng lúa.
– Bằng biện pháp nào, thưa ông?
– Bằng 2 biện pháp. Về mặt kỹ thuật phải thâm canh, nâng hiệu số sử dụng đất, hiện là 1,6 thì ta phấn đấu lên 1,8 hoặc 2. Đồng ruộng của chúng ta hiện rất manh mún, xây dựng lại đồng ruộng là tăng thêm diện tích vì bờ vùng bờ thửa ít, kênh mương đi lại hợp lý hơn đỡ tốn đất mà hiệu quả lại cao hơn. Tôi rất tiếc là trong 19 chỉ tiêu nông thôn mới không nhắc tới xây dựng lại đồng ruộng. Nhưng đất đai cũng có giới hạn, không thể nâng năng suất lên vô biên được.
Xây dựng lại đồng ruộng liên quan đến giải pháp thứ 2 là quy hoạch. Bằng quy hoạch, Chính phủ, Nhà nước xây dựng chính sách rõ ràng đối với đất trồng lúa là tất cả mọi người phải yêu quý và trân trọng nó, từ ông chủ tịch tỉnh, huyện, xã không được động đến và chuyển thành ý tưởng của nhân dân. Như thế, muốn giữ 3,2 triệu ha hay 3,8 triệu ha, ta phải khoanh lại diện tích đất trồng lúa trong cả nước càng cụ thể càng tốt. Diện tích đất trồng lúa phải được bảo vệ nghiêm ngặt. Ở đó, từng mét vuông đất phải được bảo vệ và sử dụng với hiệu quả cao nhất, có sự đầu tư xứng đáng về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, hạ tầng xã hội, bảo đảm người trồng lúa có thu nhập xứng đáng và cuộc sống sung túc cả về vật chất, tinh thần.
– Có ý kiến cho rằng không nhất thiết bảo vệ đất trồng lúa bằng mọi giá, vừa thiệt cho người trồng lúa, vừa không phát huy hết tiềm năng của đất trồng lúa; an ninh lương thực có thể giải quyết bằng tăng gia sản xuất, ông nghĩ sao?
– Những ý kiến này mới nhìn nhận vấn đề đơn thuần về hiệu quả kinh tế, mà nếu tính đầy đủ cũng chưa chắc sẽ có hiệu quả kinh tế hơn hẳn, nhưng chưa tính đến khía cạnh văn hóa – xã hội của nghề trồng lúa.
Trồng lúa là một nghệ thuật hàng ngàn năm nay của người Việt Nam, kỹ thuật trồng lúa vào loại hàng đầu thế giới. Việt Nam mở rộng được như ngày nay trước hết là nhờ văn minh lúa nước. Trớ trêu là người trồng lúa giờ lại nghèo nhất, khổ nhất, nên họ ít nhiều xuất hiện tâm tưởng muốn làm thế nào thì làm, miễn là giàu. Giữ đất trồng lúa là giữ gìn một nền văn minh. Cứ thử tưởng tượng không có cây lúa thì nông dân Việt Nam đứng ở đâu? Cho dù phát triển công nghiệp thì nền nông nghiệp vẫn là cốt lõi của Việt Nam, phải chăm sóc cho được diện tích đất lúa. Nghề trồng lúa đã nuôi sống dân tộc này thì cho dù có công nghiệp hóa thì nghề trồng lúa cũng phải công nghiệp hóa theo. Chủ động tưới tiêu, giống má, đầu tư hạ tầng.. để người dân sống được bằng nghề trồng lúa và họ vinh quang được bằng nghề trồng lúa. Đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
– Xin cám ơn ông!