Tài Liệu Học Tập
No Result
View All Result
  • Đề Thi
  • Lớp 12
    • Lịch Sử Lớp 12
    • Địa Lí Lớp 12
    • Ngữ Văn Lớp 12
    • GD KTPL Lớp 12
    • Toán Lớp 12
    • Tiếng Anh Lớp 12
    • Hóa Học Lớp 12
    • Sinh Học Lớp 12
    • Vật Lí Lớp 12
  • Lớp 11
    • Toán Lớp 11
    • Ngữ Văn Lớp 11
    • Tiếng Anh Lớp 11
    • Hóa Học Lớp 11
    • Sinh Học Lớp 11
    • Vật Lí Lớp 11
    • Lịch Sử Lớp 11
    • Địa Lí Lớp 11
    • GDCD Lớp 11
  • Lớp 10
    • Toán Lớp 10
    • Ngữ Văn Lớp 10
    • Tiếng Anh Lớp 10
    • Hóa Học Lớp 10
    • Sinh Học Lớp 10
    • Vật Lí Lớp 10
    • Lịch Sử Lớp 10
    • Địa Lí Lớp 10
    • GDKTPL Lớp 10
    • Công nghệ lớp 10
    • Tin Học Lớp 10
  • Lớp 9
    • Toán Lớp 9
    • Ngữ Văn Lớp 9
    • Tiếng Anh Lớp 9
    • Lịch sử và địa lý lớp 9
    • Khoa Học Tự Nhiên Lớp 9
    • GDCD Lớp 9
  • Lớp 8
    • Toán Lớp 8
    • Ngữ Văn Lớp 8
    • Tiếng Anh Lớp 8
    • Lịch sử và địa lý lớp 8
    • Khoa Học Tự Nhiên Lớp 8
    • GDCD 8
  • Lớp 7
    • Toán Lớp 7
    • Văn Lớp 7
    • Tiếng Anh Lớp 7
    • Lịch Sử Và Địa Lí Lớp 7
    • Khoa Học Tự Nhiên Lớp 7
  • Lớp 6
    • Toán Lớp 6
    • Văn Lớp 6
    • Tiếng Anh lớp 6
    • Lịch Sử và Địa Lí Lớp 6
    • Khoa Học Tự Nhiên lớp 6
  • Lớp 5
    • Toán lớp 5
    • Tiếng Việt Lớp 5
    • Tiếng Anh Lớp 5
    • Lịch Sử và Địa Lí Lớp 5
  • Lớp 4
    • Toán lớp 4
    • Tiếng Việt Lớp 4
    • Tiếng Anh Lớp 4
    • Lịch Sử và Địa Lí Lớp 4
  • Lớp 3
    • Toán lớp 3
    • Tiếng Anh Lớp 3
    • Tiếng Việt Lớp 3
  • Mẹo Hay
  • Tin tức
  • Liên Hệ
Tài Liệu Học Tập
No Result
View All Result
Home Văn học

by Tranducdoan
15/04/2026
in Văn học
0
Đánh giá bài viết

(Nguyễn Bá Long, Tạp chí ĐH sài Gòn, Bình luận văn học, niên giám 2012)

images?q=tbn:ANd9GcQ1nENpYELHGcXdeUFKy8leALzvALV5y3ppzGCUdate5HHVHQBs

1. DẪN NHẬP

Cuộc kháng chiến chống Mỹ đi vào lịch sử ngót nghét gần bốn mươi năm, tiếng súng tắt hẳn từ lâu. Thế nhưng, nghiên cứu về cuộc chiến này thì chưa bao giờ đứt gãy. Riêng ở mảng văn học nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng, chưa ai thống kê chính xác có bao nhiêu công trình khoa học trong và ngoài nước hướng về nó, chỉ biết rằng số lượng khá nhiều và tương lai vẫn tiếp tục. Ở đây, nghiên cứu không đơn thuần cốt để tri ân mà còn là khám phá, lí giải, làm sáng tỏ nhiều vấn đề cứ ngỡ như huyền thoại nhưng hoàn toàn có thực đã diễn ra trên đất nước ta trong một thời kì lịch sử đặc biệt, hiếm thấy; có những vấn đề của quá khứ ấy đã trở thành “chìa khóa” giải mã cho cuộc sống hôm nay, định hướng cho sự phát triển của đất nước trong kỉ nguyên Hội nhập (chẳng hạn tinh thần dân tộc, ý chí độc lập – thống nhất nước nhà, sự hòa hợp tuyệt đỉnh ý Đảng lòng Dân…). Xét ở một phương diện nào đó, đây cũng là bổn phận của những ai hoạt động ở lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, mà theo chúng tôi, vẫn còn những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ.

Trong đó có giọng điệu nghệ thuật của dòng thơ kháng chiến chống Mỹ (gọi tắt “Thơ chống Mỹ”).

Soi vào thực tiễn, sau gần 30 năm giảng dạy ở bậc phổ thông và đại học, chúng tôi thấy, tuy thời lượng giảng thơ chống Mỹ có giảm nhưng vị thế và giá trị của nó thì không hề phai nhạt. Nghĩa là nó vẫn đầy đủ hấp lực đối với mọi lớp người. Giọng thơ chống Mỹ không đơn điệu, không quan phương như một số người vội nghĩ, nhất là khi đặt nó vào bối cảnh một thời Tổ quốc lâm nguy, ngoại xâm đe dọa. Và mỗi khi đất nước “chập chờn bóng giặc” (chữ của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến trong bài Tổ quốc nhìn từ biển) thì thơ chống Mỹ lại vọng vào lòng người như ngọn sóng trào dâng.

2. NỘI DUNG

2.1. Khái niệm giọng và giọng điệu nghệ thuật:

Trong tiếng Việt (dạng tĩnh), “giọng điệu” là từ ghép đẳng lập bao gồm hai thành tố “giọng” và “điệu”. Do hai thành tố đều có nghĩa tự thân và ngang nhau (khác từ ghép chính phụ) nên khi hành chức (dạng động), chúng rất dễ được tách ra với tư cách là hai từ đơn trong một tổ hợp lớn hơn; chẳng hạn: “Đem giọng ca điệu hát đến với công chúng”. Và cũng có thể chỉ biểu nghĩa ở thành tố “giọng”, còn thành tố “điệu” có tác dụng đệm thêm (tương tự hiện tượng “iếc” hóa trong “cơm kiếc”, “lúa liếc”, uống iếc …” ). Chẳng hạn: “Anh ta nói với giọng điệu khôi hài, nghe là nhận ra ngay” → được hiểu là “giọng” (“điệu”- đệm thêm). Với tiếng Việt, từ ghép đẳng lập (hợp nghĩa) trong giao tiếp thường chỉ biểu nghĩa ở một thành tố như thế. Tương tự, trong các tổ hợp: “tóc tai gọn gàng” → biểu nghĩa “tóc”, “ăn mặc chỉnh tề” → biểu nghĩa “mặc”, “đi đứng cẩn thận” → biểu nghĩa “đi”…, “giọng điệu rõ ràng” → biểu nghĩa “giọng” (“Bao giờ nói với con, anh Hoàng cũng có cái giọng dậm dọa buồn cười ấy” – Nam Cao).

Trong nghệ thuật, khái niệm giọng điệu được các tác giả Từ điển các thuật ngữ văn học định nghĩa là: “Thái độ, tình cảm, lập trường, tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân, sơ, kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm” [5, tr.134]. Theo tinh thần định nghĩa này, giọng điệu thuộc về chủ thể sáng tạo thẩm mỹ. Với loại hình trữ tình (tập trung vào thơ) thì đó là giọng của nhà thơ, của chủ thể trữ tình, bộc lộ trong thế giới nghệ thuật.

Tuy nhiên, không ai hiểu đến thế là hết nghĩa. Giọng điệu thể hiện thái độ, tình cảm, lập trường… của chủ thể và bao giờ cũng gắn với cảm hứng và kiểu sáng tác. Vấn đề này được M. Bakhtin giải quyết thấu đáo trong các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết. Ông nêu vấn đề “loại hình hoá giọng điệu, đặt giọng điệu trong bối cảnh văn hoá” [6, tr. 8]. Theo đó, nghiên cứu giọng điệu có xu hướng mở rộng chứ không dừng lại ở một nhà văn cụ thể.

Là một biểu hiện trong nghệ thuật phi vật thể (văn chương, âm nhạc), thuộc hiện tượng xã hội – thẩm mỹ, sự hình thành giọng điệu của nhà văn tất phải chịu sự tác động, chi phối của không gian văn hóa (gia đình, quê hương, nhà trường, tập quán vùng miền…), và sự chi phối của thời đại (trong thơ có âm hưởng thời đại, có sắc điệu, dấu ấn một thời kì lịch sử): “Mỗi thời đại nhìn chung có một giọng điệu riêng, thể hiện cách thức chiếm lĩnh hiện thực và lí giải hiện thực riêng. Gắn với điều này là quan niệm nghệ thuật của thời ấy” [3, tr. 11].

Còn vai trò của nó trong sáng tạo văn chương, nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà cắt nghĩa rõ ràng, thuyết phục: “Giọng vừa liên kết các yếu tố hình thức khác nhau, làm cho chúng cùng mang một âm hưởng nào đó, cùng có chung một khuynh hướng nhất định, vừa là chỗ dựa chính để các yếu tố của tác phẩm quy tụ lại và định hình, thống nhất với nhau theo một kiểu nào đó, trong chỉnh thể giọng ấy, mỗi yếu tố hiện ra rõ hơn, đầy chất thơ hơn, thậm chí có khi mới mẻ hơn” [8, tr. 152]. Để ý, chúng tôi thấy, trong bài viết, Lê Ngọc Trà sử dụng “giọng” (từ đơn): “Giọng văn hay giọng thơ là phạm trù của thi pháp học”, bỏ “điệu”).

2.2. Các loại giọng điệu trong thơ chống Mỹ

Thơ Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ lấy cảm hứng trữ tình – sử thi làm chủ đạo. Nó là sản phẩm tất yếu của thời đại cả nước ra trận. Tương ứng với cảm hứng này là giọng điệu anh hùng ca. Có thể nói đây là chủ âm trong giàn đồng ca thơ chống Mỹ. Tuy nhiên, trên cái giọng nền ấy, xuất hiện những chất giọng khác, tức các sắc thái khác nhau của nó:“Thơ ca chống Mỹ có những đóng góp đáng chú ý về phương diện thi pháp… Các sắc thái giọng điệu thơ khá phong phú, đa dạng” [3, tr. 11]. Tuy nhiên dù đa dạng đến đâu thì vẫn có thể quy về một số kiểu giọng tiêu biểu. Nhìn tổng thể, thơ chống Mỹ nổi lên một số kiểu giọng sau đây:

2.2.1. Giọng hào sảng, lạc quan

Hào hùng, sảng khoái, lạc quan là âm hưởng chủ đạo của nền thơ ca cách mạng, bao hàm thơ chống Mỹ. Có thể nói, ở mức độ này hay mức độ khác, phần lớn các sáng tác trong hai cuộc kháng chiến đều là những tráng ca về sức sống vĩ đại của dân tộc. Tâm thế các nhà thơ là tâm thế những ca sĩ cất lên những giai điệu hào hùng, hướng về quê hương xứ sở: “Thơ ta ơi hãy cất cao tiếng hát / Ca ngợi trăm lần Tổ quốc chúng ta” (Tố Hữu). Để ngợi ca đất nước một cách chân thật và say sưa, bản thân nhà thơ tự cảm thấy phải nỗ lực hết mình, phải nâng mình ngang tầm thời đại: “Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy” (Chế Lan Viên). Chất giọng hào sảng được hiện lên ngay ở tiêu đề thi phẩm, từ Gió lộng, Ra trận, Hai đợt sóng, Hoa dọc chiến hào, Mặt đường khát vọng , Vầng trăng và quầng lửa… đến: Người con gái Việt Nam, Dáng đứng Việt Nam, Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng… Các nhà thơ như đều muốn vươn tới tầm không gian bao quát, cao rộng để: “Trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau / Trông Bắc trông Nam, trông cả địa cầu” (Tố Hữu).

Thơ chống Mỹ là thơ hiện thực (không có thơ tượng trưng hoặc siêu thực). Nhưng để thể hiện tầm vóc cao đẹp của dân tộc và con người Việt Nam, nhiều nhà thơ đã sử dụng bút pháp huyền thoại, cách điệu hóa “Em là ai? Cô gái hay nàng tiên”(Tố Hữu), “Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây”(Chế Lan Viên). Điều này cũng không có gì lạ, bởi hiện thực cuộc kháng chiến chống Mỹ vốn đã tiềm ẩn nhiều huyền thoại: con người huyền thoại, địa danh huyền thoại, chiến công huyền thoại, nhà thơ không thể không bộc lộ giọng điệu hào hùng, sảng khoái để ghi lấy âm hưởng thời đại ấy:

“Này đây

Doi đất Cửu Long xanh

Sư đoàn châu thổ

Giữa bãi sú, rừng tràm

Vụt đứng dậy sư đoàn Nam Bộ

Sư đoàn Tây Nguyên

Từ hầm chông, bẫy đá, cung tên”

(Phạm Ngọc Cảnh – Sư đoàn)

Một dân tộc vừa đánh giặc vừa làm thơ. Khi giặc Mỹ điên cuồng leo thang chiến tranh thì giọng thơ lại càng hào sảng, lạc quan. Ở đây không thể không nói đến vai trò đặc biệt của Chủ tịch – nhà thơ Hồ Chí Minh, linh hồn của cuộc kháng chiến. So với trước đây, thời chống Mỹ Bác làm thơ ít hơn. Nhưng những bài Bác viết ra lại ngùn ngụt khí thế cách mạng, chứa chan niềm tin chiến thắng:

“Đã lâu không làm bài thơ nào

Nay lại thử làm xem ra sao

Lục khắp giấy tờ vần chửa thấy

Bỗng nghe vần “thắng” vút lên cao.”

(Không đề – 1968)

Và còn nhiều nữa những giọng thơ sang sảng, lạc quan như thế. Giọng điệu trữ tình – sử thi khiến nhà thơ thích tìm đến những gam màu sáng, những âm thanh mạnh, những biểu tượng gợi cảm giác về sự kỳ vĩ, tự hào. Đồng thời giọng điệu này cũng chi phối nhà thơ trong việc xây dựng nhân vật trữ tình. Sự áp đảo của giọng điệu hùng ca khiến những tiếng nói đau thương chuyển sang sắc màu tin tưởng, hoặc ít nhất cũng là sự tỉnh táo:

“Hôm nay nhận được tin em

Không tin được dù đó là sự thật

Giặc bắn em rồi quăng mất xác

Chỉ vì em là du kích em ơi

Đau xé lòng anh chết nửa con người!

Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm

Có những ngày trốn học bị đòn roi…

Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

Có một phần xương thịt của em tôi.

(Giang Nam – Quê hương)

Ấy là chuyện riêng tư. Đây mới là chuyện của cộng đồng, của dân tộc, là niềm tin thống nhất, bất chấp sự chia cắt của quân thù:

“Mê Kông quặn đẻ

Chín nhánh sông vàng

Nông dân Nam Bộ gối đất nằm sương

Mồ hôi vã bãi lau thành đồng lúa

Thành những tên đọc lên nước mắt đều muốn ứa

Những Hà Tiên, Gia Định, Long Châu

Những Gò Công, Gò Vấp, Đồng Tháp, Cà Mau

Những mặt đất cha ông ta nhắm mắt

Truyền con cháu không bao giờ chia cắt”

(Nguyên Hồng – Cửu Long Giang ta ơi)

Trong những năm tháng đau thương nhất, ác liệt nhất, lòng đồng bào miền Nam vẫn thủy chung son sắt, vẫn hướng về ngày hai miền sum họp. Lời thơ mộc mạc, chơn chất, giọng điệu bộc trực đầy hào khí:

“Lòng chẳng đổi thay. Dù ai cắt đất chia hai

Cho trong đau khổ cho ngoài thở than

Dầu ai banh ruột, xé gan

Cho tim xa óc, cho nàng xa tôi

Thì em hãy nhớ một lời

Ngày mai thống nhất liền đôi bến bờ”

(Truy Phong – Một thế kỉ mấy vần thơ)

Tin tưởng, lạc quan nhưng vẫn khát khao đến cháy bỏng. Có thể nói, thơ Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ, trong mạch nguồn yêu nước có cảm hứng về thống nhất non sông, hơn nữa lại là thường trực, da diết. Trên hết, tập trung ở thơ Bác: “Rồi đây thống nhất non sông / Bắc Nam ta lại vui chung một nhà” (Chúc mừng năm mới, xuân 1964), “Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào / Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn” (Mừng xuân 1969). Giọng hào sảng trong thơ chống Mỹ có thêm chiều sâu, không kém phần lắng đọng:

“Tôi yêu đất nước này chân thật

Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi

Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi

Và yêu tôi đã biết làm người

Cứ trông đất nước mình thống nhất”

(Trần Vàng Sao – Bài thơ của một người yêu nước mình)

2.2.2. Giọng trữ tình, thống thiết

Bên cạnh giọng hùng ca làm chủ âm, thơ chống Mỹ còn có thêm giọng trữ tình thống thiết. Nếu giọng điệu hùng ca khởi phát từ cảm hứng sử thi thì giọng trữ tình thống thiết lại được sản sinh từ bản chất thể loại và mỹ cảm của nhà thơ. Thơ chống Mỹ là tiếng nói tình cảm của một dân tộc đứng ở đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chất trữ tình hoà quyện tự nhiên, nhuần nhụy với chất anh hùng ca: “Chất trữ tình và anh hùng vẫn là hai thành phần, hai phẩm chất, hai giọng điệu quen thuộc của thơ ca yêu nước truyền thống. Nhưng trong thơ ca chống Mỹ, những phẩm chất trên được thể hiện một cách phong phú và nhất quán hơn” [1, tr. 173]. Giọng trữ tình thống thiết trước hết được xuất phát từ cảm hứng “rưng rưng” trước vẻ đẹp của đất nước và con người Việt Nam trong những tháng năm gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng. Một Việt Nam lẫm liệt trên trận tuyến chống ngoại xâm được cất lên bằng giọng thơ hào sảng, ngân vang bên cạnh một Việt Nam trầm tĩnh, bao dung thường được ví như người mẹ nhân hậu, vị tha; giọng thơ trở về dịu êm, đằm thắm, chan chứa ân tình:

“Việt Nam, ôi Tổ quốc thương yêu!

Trong khổ đau, người đẹp hơn nhiều

Như bà mẹ sớm chiều gánh nặng

Nhẫn nại nuôi con, suốt đời im lặng.”

(Tố Hữu – Chào xuân 1967)

Nguyễn Đình Thi rất thành công trong thơ và nhạc, thể hiện khí thế sục sôi của cách mạng. Nhưng thơ ông cũng rất tâm tình, lắng sâu qua những cảm xúc về đất nước và con người Việt Nam trong những năm tháng đau thương mà anh dũng:

“Đất nghèo nuôi những anh hùng

Chìm trong máu chảy lại vùng đứng lên

Đạp quân thù xuống đất đen

Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”

(Bài ca Hắc Hải)

Thơ Huy Cận có đặc điểm ở tính bình dị, hồn hậu mà xúc động, lắng sâu. Trong kháng chiến chống Mỹ, hồn thơ ấy sớm hoà nhập với khí thế của thời đại. Huy Cận cũng ngợi ca nhưng trong nhiều trường hợp, chất giọng ngợi ca ấy thật điềm đạm, hợp với cái “tạng” của ông:

“Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững

Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa

Trong và thật, sáng hai bờ suy tưởng

Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa.”

Tố Hữu trước sau vẫn giữ vị trí trung tâm của nền thơ ca cách mạng. Giọng điệu tâm tình, da diết luôn nhất quán trong thơ ông, đến thời kỳ này lại càng đằm thắm, nồng nàn hơn. Với Tố Hữu, dù có nói đến những sự kiện lớn lao của dân tộc hay những chủ trương, đường lối của Đảng thì những sự kiện, chủ trương đó bao giờ cũng được trữ tình hoá bằng giọng thơ dịu ngọt, tình tứ. Viết về chị Lý anh hùng, thơ Tố Hữu dịu dàng, rất đỗi thân thương: “Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng / Em đã sống lại rồi, em đã sống!” (Người con gái Việt Nam)

Chất giọng trữ tình nhiều khi được đẩy đến mức thống thiết. Đó là những bài thơ viết về nỗi đau đất nước bị chia cắt trong thập niên đầu của cuộc kháng chiến. Khó ai cầm lòng cho đặng khi ở miền Nam ngập tràn những cảnh đốt phá, chém giết do Mỹ – ngụy gây ra. Giọng điệu trữ tình thống thiết có khi được vang lên từ các cụm từ “có thể nào yên”, “có thể nào khuây”, “có thể nào nguôi” nghe thổn thức đến nao lòng. Trong những nhà thơ quê Nam sống trên đất Bắc, Tế Hanh là người thể hiện sâu đậm nhất chất giọng trữ tình thống thiết. Thơ ông gieo vào lòng người đọc nỗi nhớ thương đến nghẹn ngào:

“Tôi không phải người đi kiếm khổ đau

Nhưng khổ đau vẫn là sự thực

Như đất nước lòng ta chưa thống nhất

Em ở đâu rồi, em ở đâu?”

Sau nỗi đau đất nước chia cắt là những cuộc tiễn đưa. Trong kháng chiến chống Mỹ có vô số những cuộc tiễn đưa: mẹ tiễn đưa con, vợ tiễn đưa chồng, người yêu đưa tiễn người yêu… Họ chúc tụng, động viên, hẹn hò và hết thảy đều lưu luyến, nhớ nhung. Những cuộc tiễn đưa như thế không chỉ là nụ cười, là câu hát mà còn có cả nỗi buồn và nước mắt. Điều này, về sau nhà thơ Tạ Hữu Yên nói rất đúng: “Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ, các con không về lòng mẹ lặng yên”. Như vậy, viết về những cuộc tiễn đưa (dù đó là Cuộc chia li màu đỏ), nhà thơ cũng không thể không bộc lộ bằng giọng thơ ngậm ngùi, đầy xúc động:

“Chiếc áo đỏ rực như than lửa

Cháy không nguôi trước cảnh chia li

Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia

Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy,

Không che được nước mắt cô đã chảy…”

(Nguyễn Mỹ – Cuộc chia li màu đỏ)

Và có cả nỗi đau tiễn biệt trong hạnh phúc lứa đôi. Nỗi đau này không phải chuyện nhỏ, do vậy cũng không dễ dàng bỏ qua. Nhưng điều đáng quý là ở sức chịu đựng, chịu mất cái riêng để được cái chung, đặt cái riêng dưới cái chung, họ thấu hiểu cuộc kháng chiến chống Mỹ là ác liệt vô cùng, tổn thất là không tránh khỏi và khó tính hết. Trước hi sinh của người thân nơi chiến trường; dù không bi lụy nhưng không thể không có bi thương, giọng thơ thống thiết, thổn thức đến tận cùng xúc cảm:

“Anh mất em như mất nửa cuộc đời

Nỗi đau anh không thể nói bằng lời

Một ngọn lửa thâm trầm âm ỉ cháy

Những viên đạn quân thù bắn em trong lòng anh sâu xoáy

Bên những vết đạn xưa chúng giết bao người

Anh bàng hoàng như ngỡ trái tim rơi

Như bỗng tắt vừng mặt trời hạnh phúc”

(Dương Hương Ly – Bài thơ về hạnh phúc)

Chúng tôi thấy kiểu giọng trữ tình – thống thiết hiển diện trong thơ chống Mỹ không hề thưa vắng. Chất giọng này góp phần gia tăng tính hướng nội, đưa thơ vào chiều sâu nhân bản, tạo nên hấp lực diệu kì của một nền thơ, một thời thơ. Nói thơ chống Mỹ đơn điệu, quan phương, chỉ một chiều tụng ca – minh họa là chưa thỏa đáng.

2.2.3. Giọng triết lý, suy tưởng

Thơ khởi phát từ tình cảm nhưng không phải duy nhất chỉ có tình cảm. Nhà thơ Sóng Hồng cho rằng: “Thơ là tình cảm và lý trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật” [7, tr. 124]. Tình cảm và lí trí trong thơ không loại trừ nhau mà luôn gắn bó mật thiết, bổ sung cho nhau. Sự hàm súc và chiều sâu luôn là yêu cầu cao đối với thơ, mà điều đó chỉ có thể đạt được bằng cách huy động sức mạnh của lí trí, thông qua suy tưởng, triết lý, tăng cường tính chính luận. Hơn nữa, sự ra đời của giọng triết lý, suy tưởng, đậm chất chính luận một phần cũng do xuất phát từ đòi hỏi của thời đại chống Mỹ. Thời ấy, Việt Nam trở thành tâm điểm của phong trào cách mạng thế giới, các nhà thơ không thể dừng lại ở việc mô tả, trình bày, ngợi ca mà còn phải khám phá, phát hiện, bộc lộ những suy nghĩ sâu sắc của mình về con người và cuộc sống, về dân tộc và thời đại.

Giọng điệu triết lý, suy tưởng giàu tính chính luận thường được thể hiện bằng thể thơ tự do, ít gieo vần, chủ yếu là thơ điệu nói, cấu trúc câu thơ thường theo hướng mở rộng. Nhờ tăng số lượng âm tiết trong câu thơ mà nhà thơ có khả năng diễn tả nhiều cảm nhận, nhiều ý tưởng của mình về cuộc sống. Tuy nhiên mở rộng không có nghĩa là dài dòng, vô vị mà nó vẫn giữ được tính hàm súc, vẫn đi bằng nhịp điệu. Tiếng gọi đàn của giọng thơ này chính là Chế Lan Viên. Thơ ông không chỉ đằm thắm trong cảm xúc mà còn suy ngẫm sâu sắc, hướng tới lý giải những vấn đề của dân tộc và thời đại. Chẳng hạn, viết về Tổ quốc, ngợi ca Tổ quốc trong những năm chống Mỹ, Chế lan Viên vừa say mê vừa tỉnh táo để soi Tổ quốc từ nhiều phía: Tổ quốc lừng lẫy, toả sáng nhưng cũng đầy nước mắt, đau thương, giọng thơ trầm lắng, đi vào chiều sâu triết lí:

“Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời,

Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khoá

Những pho tượng chùa Tây Phương không biết cách trả lời

Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ

Văn chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi”

(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?)

Không đúc kết thành những châm ngôn như trong thơ Chế lan Viên, Huy Cận triết lí theo cách riêng của mình, ông đi từ những hình ảnh, những chi tiết cụ thể mà khám phá ra ý nghĩa sâu xa, những mối tương quan về thời gian (quá khứ, lịch sử, hiện tại) về không gian (con người, tạo vật, vũ trụ). Chẳng hạn, quan sát Các vị La Hán chùa Tây Phương qua những nét chạm khắc tạo hình về một quần thể tượng đầy khổ hạnh, nhà thơ mượn chuyện phật để nói chuyện đời, hướng người đọc suy tưởng đến một thời cha ông ta sống trong xã hội tăm tối, vật vã, không tìm được lối ra:

“Mỗi người mỗi vẻ mặt con người

Cuồn cuộn đau thương chảy dưới trời

Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã

Tượng không khóc cũng đổ mồ hôi”

(Các vị La Hán chùa Tây Phương)

Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, trước sau thơ ông vẫn là những lời tâm tình da diết, kể cả khi ông đưa chất chính luận vào thơ. Càng về cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, thơ Tố Hữu càng gia tăng những suy tư, chiêm nghiệm, triết lý nhằm nhận thức và lý giải ở tầng sâu về dân tộc, lịch sử, con người, về cuộc chiến đấu của nhân dân ta. Nhờ vậy, giọng thơ càng trở nên lắng đọng, có sức nặng bên trong:

“Chúng muốn đốt ta thành tro bụi

Ta hoá vàng nhân phẩm lương tâm

Chúng muốn ta bán mình ô nhục

Ta làm sen thơm ngát giữa đầm”

(Việt Nam máu và hoa)

Chất giọng triết lý, suy tưởng thường gắn với tính chính luận, khái quát. Về phương diện này, những nhà thơ trẻ thời chống Mỹ đã có những sáng tạo độc đáo. Họ có lợi thế là đã sống sâu với cuộc kháng chiến, được tôi luyện trong lửa đạn và nếm trải những gian lao thử thách nơi trận mạc nên thơ họ thường khái quát từ những hình ảnh cụ thể, chân thực, lắm khi chỉ xuất hiện trong một khoảng khắc đặc biệt nơi chiến trường. Từ một chiến sĩ giải phóng quân hy sinh trong tư thế tiến công quân thù, Lê Anh Xuân nâng lên thành “Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ”. Phạm Tiến Duật khái quát về sức sống của đất nước qua sức sống của cây trái bốn mùa, hoặc qua hình ảnh “Vầng trăng đất nước, vượt qua quầng lửa mọc lên cao”. Chính Hữu từ những ngọn đèn làm tín hiệu giao thông được nâng lên thành Ngọn đèn đứng gác. Nguyễn Duy không dừng lại ở bề ngoài mà thường hướng về cái bề sâu, bề sau của chúng để phát hiện ra những ý nghĩa sâu xa. Đó là sự phát hiện ra phẩm chất dân tộc qua hình ảnh Tre Việt Nam hay qua “những cọng rơm xơ xác, gầy gò”. Chất giọng triết lý suy tưởng trong thơ Thanh Thảo lại được lộ rõ trong những suy tư về nhân dân. Tác giả suy ngẫm về nhân dân qua những hình ảnh vừa cụ thể, vừa mang ý nghĩa khái quát, biểu tượng:

“Dân tộc tôi khi đứng dậy làm người

Mồ hôi vã một trời sao trên đất,

Nhân dân tôi khởi lên từ phù sa vất vả,

Và cứ thế nhân dân thường ít nói

Và cứ thế nhân dân cao vòi vọi

Bao tai ương cứ dội xuống theo mùa.”

(Những người đi tới biển)

Ở Nguyễn Khoa Điềm, giọng triết lý suy tưởng có khi thấm sâu vào lời ru đằm thắm, qua những hình ảnh mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc: “Mặt trời của bắp thì mọc trên đồi / Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng” (Khúc hát ru những em bé lớn lên trên lưng mẹ).

Đến nữ thi nhân Xuân Quỳnh, trong chất giọng da diết, nồng hậu, nhiều trăn trở lắm âu lo, thơ chị còn thẳm sâu những dòng minh triết về tình yêu: “Ôi con sóng ngày xưa / Và mai sau vẫn thế / Nỗi khát vọng tình yêu / Bồi hồi trong ngực trẻ” (Sóng).

Đối những nhà thơ yêu nước trong lòng đô thị miền Nam, thuộc vùng kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, giọng triết lí của họ thường hướng về con người (thân phận), về chiến tranh và hòa bình, về cội nguồn và hòa hợp. Nhiều nhà thơ mượn hình tượng Mẹ để nói về đất nước, đất nước từ một lòng mẹ. Mẹ muốn những đứa con hợp lại chống ngoại bang và hòa giải với nhau. Mẹ bao giờ cũng nhân hậu, rộng lượng, vị tha. Nhà thơ đối thoại với Mẹ bằng chất giọng tự thoại:

“Vì Mẹ ơi, con biết Trái tim con là thơ Trái tim con là rừng, là núi Là lúa ngô, là cam, là bưởi Là quá khứ, là tương lai Là khổ đau, là hạnh phúc Là đấu tranh, là bất khuất Trái tim là của con người Viết lịch sử mình trên mặt đất Bằng từng nét máu thắm tươi”

(Trần Quang Long – Thưa mẹ trái tim)

3. KẾT LUẬN

Giọng điệu nghệ thuật góp phần làm nên nét độc đáo, trường tồn của dòng thơ chống Mỹ. Trên cái nền của âm hưởng sử thi, thơ chống Mỹ còn có thêm giọng trữ tình thống thiết bên cạnh chất giọng triết lý, suy tưởng đậm tính chính luận.

Xét về đời sống văn học, chúng tôi cho rằng, lịch sử sang trang, dẫu hiện thực có đổi thay, cảm hứng sáng tạo có xoay chiều đến đâu thì mối quan hệ giữa nghệ thuật với đời sống con người vẫn luôn bền vững. Một nền thơ đỉnh cao, được gọi là “thịnh vượng” trước hết phải là nền thơ đến với muôn người, như những sợi tơ lòng nhập sâu vào tâm hồn công chúng, một nền thơ hành trình cùng dân tộc. Ấy cũng là nền thơ hội tụ những tài năng, những giọng điệu làm nên sắc diện riêng của một thời thơ – một thế hệ nhà thơ.

Dẫu rằng mỗi thời mỗi khác, không thế lấy tất cả những cái hôm qua làm hệ quy chiếu áp vào đánh giá cái hôm nay. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng, sức lan tỏa của thơ hiện nay chưa sâu, chưa rộng trong lòng công chúng như thơ thời chiến tranh. Xét ở một góc độ nào đó, hiệu năng của nó đối với xã hội cũng chưa thể sánh bằng. Có lẽ, câu định nghĩa của nhà thơ Sóng Hồng “Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp” như chìa khóa để cắt nghĩa vấn đề này chăng?

NBL.

Tài liệu tham khảo

1. Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức (1979), Nhà văn Việt Nam 1945 – 1975 (Tập I), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, , tr. 173.

2. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội.

3. Nguyễn Đăng Điệp (2005), “Thơ chống Mỹ thành tựu và những kinh nghiệm nghệ thuật”, báo Thơ, (số 23), tr.11.

4. Hà Minh Đức (1987), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại (tái bản lần thứ nhất), Nxb Giáo dục, Hà Nội

5. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1999), Từ điển thuật ngữ văn học (in lần thứ ba), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

6. Trần Đình Sử (1999), “Giọng điệu nghệ thuật và chủ nghĩa cảm thương trong Truyện Kiều”, Tạp chí Văn học (số 2), tr.8 – 12.

7. Nguyễn Văn Long, Lê Mai, Phạm Khánh Cao (1983), Tư liệu thơ hiện đại Việt Nam (sách ĐHSP), Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.124

8. Lê Ngọc Trà (1990), Lí luận và Văn học, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh.

9. Hoàng Trung Thông (chủ biên) (1979), Văn học Việt Nam chống Mỹ cứu nước, Nxb Khoa học Xã hội

Previous Post

Hãy viết công thức cấu tạo của các carboxylic acid đơn chức có công thức phân tử C4H8O2

Next Post

Different là gì? Từ đồng nghĩa, các bổ ngữ và giới từ đi cùng Different

Tranducdoan

Tranducdoan

Trần Đức Đoàn sinh năm 1999, anh chàng đẹp trai đến từ Thái Bình. Hiện đang theo học và làm việc tại trường cao đẳng FPT Polytechnic

Next Post

Different là gì? Từ đồng nghĩa, các bổ ngữ và giới từ đi cùng Different

thời tiết miền bắc đọc sách online cm88 Ca Khia TV trực tiếp XoilacTV Socolive trực tiếp https://p789bet.biz/ fly88 cm88 com 789bet ww88 sumclub https://theaquaverse.io/17
Tài Liệu Học Tập

Copyright © 2022 Tài Liệu Học Tập.

Chuyên Mục

  • Đề Thi
  • Lớp 12
  • Lớp 11
  • Lớp 10
  • Lớp 9
  • Lớp 8
  • Lớp 7
  • Lớp 6
  • Lớp 5
  • Lớp 4
  • Lớp 3
  • Mẹo Hay
  • Tin tức
  • Liên Hệ

Tham Gia Group Tài Liệu Học Tập

No Result
View All Result
  • Đề Thi
  • Lớp 12
    • Lịch Sử Lớp 12
    • Địa Lí Lớp 12
    • Ngữ Văn Lớp 12
    • GD KTPL Lớp 12
    • Toán Lớp 12
    • Tiếng Anh Lớp 12
    • Hóa Học Lớp 12
    • Sinh Học Lớp 12
    • Vật Lí Lớp 12
  • Lớp 11
    • Toán Lớp 11
    • Ngữ Văn Lớp 11
    • Tiếng Anh Lớp 11
    • Hóa Học Lớp 11
    • Sinh Học Lớp 11
    • Vật Lí Lớp 11
    • Lịch Sử Lớp 11
    • Địa Lí Lớp 11
    • GDCD Lớp 11
  • Lớp 10
    • Toán Lớp 10
    • Ngữ Văn Lớp 10
    • Tiếng Anh Lớp 10
    • Hóa Học Lớp 10
    • Sinh Học Lớp 10
    • Vật Lí Lớp 10
    • Lịch Sử Lớp 10
    • Địa Lí Lớp 10
    • GDKTPL Lớp 10
    • Công nghệ lớp 10
    • Tin Học Lớp 10
  • Lớp 9
    • Toán Lớp 9
    • Ngữ Văn Lớp 9
    • Tiếng Anh Lớp 9
    • Lịch sử và địa lý lớp 9
    • Khoa Học Tự Nhiên Lớp 9
    • GDCD Lớp 9
  • Lớp 8
    • Toán Lớp 8
    • Ngữ Văn Lớp 8
    • Tiếng Anh Lớp 8
    • Lịch sử và địa lý lớp 8
    • Khoa Học Tự Nhiên Lớp 8
    • GDCD 8
  • Lớp 7
    • Toán Lớp 7
    • Văn Lớp 7
    • Tiếng Anh Lớp 7
    • Lịch Sử Và Địa Lí Lớp 7
    • Khoa Học Tự Nhiên Lớp 7
  • Lớp 6
    • Toán Lớp 6
    • Văn Lớp 6
    • Tiếng Anh lớp 6
    • Lịch Sử và Địa Lí Lớp 6
    • Khoa Học Tự Nhiên lớp 6
  • Lớp 5
    • Toán lớp 5
    • Tiếng Việt Lớp 5
    • Tiếng Anh Lớp 5
    • Lịch Sử và Địa Lí Lớp 5
  • Lớp 4
    • Toán lớp 4
    • Tiếng Việt Lớp 4
    • Tiếng Anh Lớp 4
    • Lịch Sử và Địa Lí Lớp 4
  • Lớp 3
    • Toán lớp 3
    • Tiếng Anh Lớp 3
    • Tiếng Việt Lớp 3
  • Mẹo Hay
  • Tin tức
  • Liên Hệ

Copyright © 2022 Tài Liệu Học Tập.