Những chỉ giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cơ sở vững chắc cho chúng ta tổ chức, sử dụng một lực lượng lao động rất hạn hẹp trong thời chiến để tiến hành hai cuộc chiến tranh, đánh thắng hai đế quốc to và từng bước xây dựng lại đất nước. Cũng trên nền tảng đó, ngày nay các nhà khoa học, nhà quản lý lao động đang nghiên cứu, tìm tòi, cụ thể hóa những biện pháp hữu hiệu để hợp lý hóa tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Triệt để sử dụng các nguồn lao động
Bằng hoạt động thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết thành lý luận. Người dạy, phải thấu suốt vai trò động lực của lực lượng lao động xã hội. Một trong những nhiệm vụ then chốt của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là phải xây dựng một nền kinh tế phát triển bền vững. Thực hiện nhiệm vụ trọng đại này không ai khác là lực lượng lao động được huy động, thu hút tối đa và được tổ chức hợp lý trong nền sản xuất xã hội. Đó là một trong những điều kiện có tính quyết định để tạo ra một khối lượng sản phẩm xã hội ngày càng lớn với chất lượng cao.
Người nói: “Lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn, là vô cùng vô tận”[1]. Do đó, “muốn có chủ nghĩa xã hội thì không có cách nào khác là phải dốc lực lượng của mọi người ra để sản xuất”[2]. Chủ nghĩa xã hội có tính ưu việt của nó là có khả năng tạo ra những tiền đề để thu hút, sử dụng các nguồn lao động xã hội. Đó là, người lao động đã hoàn toàn được giải phóng và tư liệu sản xuất đã thuộc về họ; họ làm việc không phải cho ai khác mà là cho chính mình và cho nghĩa vụ của mình đối với đất nước.
Người đã chỉ rõ: “Hiện nay nhân dân lao động ta là những người làm chủ nước ta… Chúng ta có quyền và có đủ điều kiện để tự tay mình xây dựng đời sống tự do, hạnh phúc cho mình”[3]. Với tinh thần phát huy nội lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng nêu cao ý chí tự lực, tự cường. Nếu trong cách mạng giải phóng dân tộc, Người đã kêu gọi, “Lấy sức ta mà tự giải phóng cho ta”, thì trong cách mạng XHCN, Người lại nhấn mạnh, phải “tự tay mình xây dựng đời sống tự do, hạnh phúc cho mình”.
Như vậy, theo lời dạy của Người thì lực lượng sản xuất lớn nhất, quan trọng nhất của xã hội chính là lực lượng lao động, đây cũng là nguồn vốn quý báu nhất; huy động, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này có tính chất quyết định tới sự thành công của công cuộc xây dựng và phát triển một nền kinh tế XHCN hùng mạnh.
Tôn nghiêm kỷ luật lao động
Khi hết thảy những người lao động đã được thu hút tham gia vào nền sản xuất xã hội thì một vấn đề cấp bách được đặt ra là phải thi hành những biện pháp nào để mọi người làm việc có hiệu suất cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, biện pháp đầu tiên là, “Kỷ luật lao động phải nghiêm”[4].
Theo lời dạy của Người, kỷ luật lao động bao gồm tính tự giác của con người trên cơ sở tự làm chủ đi đôi với việc thi hành nghiêm minh pháp luật lao động của Nhà nước. Khi người lao động thực sự làm chủ, tự giác trong lao động thì nhân tố tưởng như trừu tượng lại trở thành nhân tố đầu tiên, cụ thể, rõ ràng và hiện thực để tăng năng suất lao động và nó sẽ chi phối tất cả các nhân tố khác tác động đến năng suất lao động. Người dạy, “đã là người chủ thì phải biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không trông chờ. Mỗi người phải ra sức góp công, góp của để xây dựng nhà nước. Chớ nên “ăn cỗ đi trước lội nước đi sau”. Ai cũng phải là một chiến sĩ dũng cảm phấn đấu xây dựng chủ nghĩa xã hội”[5].
Đi đôi với kỷ luật tự giác dựa trên tinh thần làm chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vị trí xứng đáng cho kỷ luật lao động dựa trên cơ sở pháp luật, tức là phải thực hiện tốt nghĩa vụ lao động và khi cần thiết có những đối tượng phải yêu cầu họ tham gia lao động (bởi vì xã hội cũ còn rơi rớt lại những thói hư, tật xấu, trong đó có tệ ăn bám, lười biếng, không chịu làm việc). Người kiên trì giáo dục, bồi dưỡng tính tự giác và chỉ ra cho mọi người hiểu rằng, “Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”[6]. Và, “ai cũng phải tùy khả năng mình mà tự nguyện, tự giác tham gia lao động, góp phần xây dựng nước nhà”[7]. “Chỉ những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ… Ai sợ khó, sợ khổ, muốn “ngồi mát ăn bát vàng”, người đó mới là kém…”[8].
Vào lúc này, lời dạy của Người càng có tính giáo dục sâu sắc. Mỗi người phải là một chiến sĩ dũng cảm trong lao động, phải “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” mới làm ra của cải; phải “một nắng, hai sương” mới có được đồng tiền bát gạo; không thể làm ăn lớt phớt mà lại giàu có, sung sướng, ấm no được. Sẽ không bao giờ có chuyện “làm chơi, ăn thật”, bởi làm chơi thì không ra của cải, mà ăn thật thì “miệng ăn, núi lở”. Chỉ có thể bằng chính trí tuệ, sức lực của mình, làm giàu hợp pháp thì mới có được cuộc sống sung sướng, hạnh phúc, ấm no.
Lời dạy của Người giản dị mà đầy tính thuyết phục. Những người lao động chân chính đều nhận thấy rằng, phải từ sức lao động của mình mà kiến tạo nên cuộc sống tốt đẹp cho mình và làm tròn trách nhiệm của mình đối với xã hội. Làm được như thế chính là tự mình đã trả lời được câu hỏi, mình có phải là con người hữu ích hay không?
Trả công lao động sát với chân giá trị của lao động
Một trong những nội dung then chốt của tổ chức lao động xã hội là trả công lao động. Nếu như kỷ luật lao động nhằm làm cho mỗi người phải bảo đảm thực hiện nghiêm túc, đầy đủ nhiệm vụ sản xuất, công tác được phân công thì trả công lao động đúng đắn lại là yếu tố hết sức quan trọng nhằm kích thích tính tích cực của mỗi người lao động và bảo đảm cho sự công bằng trong cống hiến và đãi ngộ.
Từ năm 1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, “phân phối phải theo mức lao động. Lao động nhiều thì được phân phối nhiều, lao động ít thì được phân phối ít. Lao động khó thì được phân phối nhiều, lao động dễ thì được phân phối ít… Nếu ai thực hiện vượt mức quy định thì được thưởng. Có như thế mới khuyến khích mọi người cố gắng hơn nữa. Thưởng, phạt phải công bằng”[9].
Từ chỉ dẫn của Người, ngày nay các nhà khoa học lao động đã khái quát thành 3 căn cứ để trả công lao động: Một là, phải căn cứ vào độ phức tạp của lao động (mức độ khó, dễ của công việc); hai là, phải tính đến mức tiêu hao lao động sống (thời gian lao động đã hao phí); ba là, phải lưu ý đến điều kiện lao động (mức độ tốt, xấu của môi trường nơi làm việc).
“Thuật” dùng người
Trong tổ chức lao động xã hội thì phân công lao động là một nội dung khá quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn rất cụ thể và chi tiết, “Phải tổ chức và phân phối sức lao động cho tốt… Sức người có nhiều loại: có thanh niên, có phụ nữ, có người trẻ, có người già. Phải phân công lao động cho hợp lý, người khỏe thì làm việc nặng, người yếu thì làm việc nhẹ…”[10].
Theo tư tưởng của Người thì một trong những điều kiện để sử dụng hợp lý các nguồn lao động là phải nắm vững cơ cấu chất lượng lao động (nam, nữ, độ tuổi, thể lực, trình độ, khả năng…) để ráp vào từng loại việc cho tương thích. Từ những công việc đời thường rất bình dị, Người đã khái quát thành những nguyên tắc để chỉ dẫn chúng ta trong việc sử dụng lao động: “Dùng người như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, gỗ nhỏ, thẳng cong, đều tùy chỗ mà dùng được”[11].
Người đặc biệt quan tâm đến việc sử dụng lao động đúng ngành nghề, đúng chuyên môn được đào tạo, vì đó là điều kiện quan trọng để người lao động phát huy tài năng và có sự cống hiến ngày càng lớn. Người nghiêm khắc phê phán tình trạng phân công, sử dụng lao động trái với nghề nghiệp, chuyên môn của họ, “thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao. Thành thử cả hai người đều lúng túng. Nếu biết tùy tài mà dùng người, thì hai người đều thành công… Phải dùng người đúng chỗ, đúng việc”[12].
Kết luận của Người là chân lý khoa học, “người nào việc nấy, dụng nhân như dụng mộc”.
Coi trọng đào tạo và trọng dụng lao động có tay nghề cao
Một bộ phận hợp thành tái sản xuất xã hội, đó là tái sản xuất sức lao động. Song song với tái sản xuất sức lao động cá nhân và tái sản xuất các thế hệ lao động tiếp theo, trong thời đại “cách mạng khoa học – kỹ thuật là then chốt”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến tái sản xuất sức lao động lành nghề, nghĩa là người lao động phải được đào tạo để có trình độ nghề nghiệp ngày càng cao, làm việc ngày càng có hiệu quả.
Thực tiễn đã chứng minh rằng, lao động lành nghề có hiệu quả cao gấp bội lần so với lao động giản đơn. Người nói, “Phải tạo mọi điều kiện cho nhân dân lao động nắm được những hiểu biết khoa học kỹ thuật, ra sức đào tạo thật nhiều cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý cho sản xuất phát triển, chỉ có như thế chúng ta mới xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội”[13]. Được đào tạo, có kiến thức khoa học, kỹ thuật, đó là chìa khóa cho người lao động sử dụng ngày càng đầy đủ công suất máy móc, cải tiến công cụ, phát huy sáng kiến, nâng cao chất lượng công việc. Chúng ta hiện đang thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc đào tạo lao động có tay nghề cao chính là điều kiện để người lao động nâng cao năng suất lao động, giữ được việc làm trong nền kinh tế thị trường – một nền kinh tế hết sức nghiêm khắc về chất lượng lao động.
Quản lý một nền kinh tế, tổ chức một nền sản xuất xã hội đòi hỏi mọi người phải có những hiểu biết cần thiết về khoa học lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta những quan điểm tư tưởng, những nội dung, những nguyên tắc cơ bản, đó là tài sản quý báu của lĩnh vực khoa học này. Người lao động phải ý thức được vai trò của lao động để làm việc có trách nhiệm, có hiệu quả. Các nhà quản lý, lãnh đạo cần nghiên cứu thấm nhuần và vận dụng sáng tạo trong công cuộc đổi mới để tổ chức sản xuất, tổ chức công tác, tổ chức lao động hợp lý, khoa học đạt hiệu quả trên những tầm cao mới.
____________